Top 9 # Vì Sao Vàng Có Chức Năng Tiền Tệ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Tiền Tệ Có Mấy Chức Năng?

Tiền tệ có mấy chức năng là điều rất được mọi người quan tâm. Trên thực tế, đây không phải là một vấn đề quá quan trọng. Vì chúng ta đang sống trong thực tiễn, những gì mà tiền tệ cho chúng ta thấy chính là giá trị mang tính hữu hình của nó. Tiền tệ giúp ta mua được những món đồ chúng ta muốn, tiền tệ còn có thể đem đi đầu tư và tích lũy lợi nhuận,… Cho nên, nếu nói ở mặt bằng chung, tiền tệ cũng chỉ được xem là một công cụ thông thường phục vụ nhu cầu sống của con người ở khắp các nơi trên thế giới.

Tiền tệ có mấy chức năng trong triết học?

Trong triết học, tiền tệ có mấy chức năng lại là một câu hỏi hết sức quan trọng, bởi lẽ nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đoán định sự luân chuyển, thay đổi của kinh tế học. Cụ thể, theo Mac – Lenin, tiền tệ có 5 chức năng chính. Chức năng đầu tiên chính là đóng vai trò như một thước đo giá trị của một sự vật bất kỳ. Ví dụ như cũng là đồ trang sức, nhưng tại sao vàng lại đắt hơn bạc, kim cương lại đắt hơn vàng,… và tiền tệ sẽ cho ta thấy rõ ràng sự chênh lệch giữa chúng. Chức năng thứ hai là phương tiện lưu thông, có nghĩa là tiền giúp chúng ta mua những gì chúng ta cần. Bạn bán đi món hàng bạn có để lấy tiền, sau đó bạn dùng tiền để mua đồ bạn muốn, đó chính là ý nghĩa về mặt lưu thông.

Chức năng thứ ba chính là chức năng cất trữ. Như đã nói ở trên, bạn có thể sử dụng tiền để tích trữ, gửi ngân hàng và nhận lãi suất hàng năm,… Tiếp đến là chức năng thứ tư, tương đương với phương tiện thanh toán. Rõ ràng tiền đóng vai trò quan trọng trong thanh toàn tất cả mọi thứ là điều ta không thể chối cãi được. Và cuối cùng là chức năng tiền tệ thế giới. Dù có đi đâu đi chăng nữa thì tiền vẫn sẽ là công cụ giúp ta hòa nhập với thế giới xung quanh. Ta sẽ không bị gò bó bởi các khác biệt về văn hóa, đời sống,…

Biết tiền tệ có mấy chức năng để làm gì?

Hạn Chế Chức Năng Tiền Tệ Của Vàng, Cách Nào?

Để có thể huy động tối đa lượng vàng đang được cất trữ trong dân, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ nên cho phép kinh doanh vàng trên tài khoản.

Đồng tình với chủ trương thu hẹp kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do, song các doanh nghiệp cho rằng chính sách quản lý phải hướng đến kích thích lợi ích kinh tế cho người có vàng thay vì chủ quan bằng mệnh lệnh hành chính.

Không cấm người dân cất giữ

Theo phó thống đốc ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, vàng miếng SJC của công ty cổ phần vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) – hiện chiếm trên 80% thị phần vàng miếng cả nước – hầu như có đầy đủ các chức năng của một đồng tiền thứ hai trên lãnh thổ Việt Nam. Vàng đã là thước đo giá trị, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, tự do lưu thông, chuyển đổi, mua bán… Do vậy, dự thảo nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (thay thế nghị định 174 – năm 1999) do ngân hàng Nhà nước soạn thảo hướng tới: vàng miếng là hàng hoá đặc biệt do ngân hàng Trung ương quản lý từ khâu phát hành đến lưu thông. Hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh vàng, theo đó sẽ phải tập trung đầu mối, tiến tới xoá bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do.

Thành viên hội đồng tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia Cao Sỹ Kiêm, nêu ý kiến: vàng miếng ở Việt Nam hiện mang chức năng tiền tệ khá rõ, do vậy nên được quản lý tương tự như với đồng đôla: không cấm người dân được cất trữ, song hoạt động mua bán phải được kiểm soát bởi cơ quan, đơn vị có thẩm quyền. “Việc tự do giao dịch vàng miếng như tại Việt Nam dẫn đến tình trạng người dân, doanh nghiệp nào cũng có thể trở thành nhà phát hành tiền – vì trên thực tế vàng có thể biến thành USD, tiền bất cứ lúc nào, gây nhiễu chính sách tiền tệ”, ông Kiêm giải thích.

Theo phó tổng giám đốc công ty cổ phần vàng bạc đá quý SJC Hà Nội Lưu Quang Điền, vàng tự nó không thành hàng hoá hay tiền tệ mà phụ thuộc rất lớn vào chính sách của Nhà nước. “Thực tế hiện nay, vàng nữ trang là hàng hoá, vàng miếng ít nhiều vẫn mang chức năng tiền tệ và hai chức năng này có thể chuyển đổi rất dễ qua chế tác”, ông Điền nói. Cũng theo ông Điền, ở Việt Nam khi kinh tế bất ổn người dân càng gia tăng tâm lý cất trữ vàng, lấy vàng làm thước đo giá trị. Do vậy, các chính sách càng hướng đến ổn định vĩ mô, chức năng tiền tệ của vàng càng được hạn chế. Đồng thời, cần tuân thủ chặt quy định: trên lãnh thổ Việt Nam, chỉ được thanh toán bằng tiền đồng (VND), góp phần loại bỏ dần tâm lý “vàng hoá” hay “đôla hoá”.

Tuy nhiên, tổng thư ký hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam Đinh Nho Bảng lại cho rằng, vàng miếng hiện cơ bản đã không còn chức năng tiền tệ, bởi các giao dịch hầu như không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán. “Vàng hiện chủ yếu là công cụ cất trữ, bảo toàn giá trị tài sản”, ông Bảng nhấn mạnh.

Có chính sách huy động vàng hấp dẫn

Làm cách nào để “lôi vàng ra khỏi két” của người dân nhằm phát huy cao nhất nguồn vốn rất lớn cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước? Đặt câu hỏi này với ông Lưu Quang Điền, ông cho rằng, cần phải kích thích người có vàng bằng lợi ích kinh tế, thay vì dùng ý chí chủ quan hay mệnh lệnh hành chính. Việc cất trữ vàng trong két không thôi cũng đã có lời. Nếu các ngân hàng có chính sách huy động vàng hấp dẫn, người dân chắc chắn sẽ mang đi gửi. Trước đây, có thời điểm lãi suất huy động vàng lên tới 4 – 5%/năm, lượng vàng được gửi trong hệ thống ngân hàng ước khoảng 30% lượng vốn vàng trong dân (hiện lượng vàng người dân nắm giữ ước khoảng 500 tấn, tương ứng hơn 20 tỉ USD).

Trước lo ngại việc huy động vàng có thể gây rủi ro cho các ngân hàng trong bối cảnh giá kim loại này biến động quá lớn, tổng giám đốc công ty Vàng bạc đá quý ngân hàng Nông nghiệp Nguyễn Đình Trúc cho rằng, thay vì bán vàng ra lấy tiền VND, các ngân hàng có thể gửi số vàng đó sang tài khoản nước ngoài để hưởng lãi suất, đồng thời, dùng vàng làm tài sản thế chấp vay vốn ngoại tệ với lãi suất 3 – 3,5%, sau đó cho vay lại. Ông Trúc cho biết: “Chúng tôi đã trao đổi với một số ngân hàng lớn như HSBC, UPS… và cơ bản thoả thuận được việc gửi vàng, vay ngoại tệ”. Phương án khác, theo ông Trúc, các ngân hàng huy động vàng có thể bán ra thị trường thế giới lấy ngoại tệ và cân đối bằng việc mua lượng vàng tương ứng trên tài khoản để đảm bảo khả năng thanh toán đến hạn.

Ông Đinh Nho Bảng đề xuất, Chính phủ cần xem xét mở rộng kinh doanh vàng trên tài khoản, thị trường vàng trong nước và thế giới liên thông, các ngân hàng có công cụ phái sinh để ngừa rủi ro; đồng thời góp phần thu hẹp thị trường vật chất. Hiện tại thị trường vàng Việt Nam 100% là giao dịch vàng vật chất, và mỗi đơn vị giao dịch đang phải mất hai lần chi phí do chế tác. Theo đó, chúng ta phải nhập vàng thế giới dưới dạng nguyên liệu, chế thành vàng miếng (chi phí chế tác trung bình khoảng 300.000 đồng/lượng), trong trường hợp xuất khẩu cũng lại trở thành vàng nguyên liệu. Đó là chưa kể, nếu cơ quan quản lý cấm kinh doanh vàng miếng, người dân sẽ chuyển thành vòng, nhẫn hay các hình khối khác, chi phí xã hội còn cao hơn mà chất lượng, trọng lượng càng khó kiểm soát. Muốn vậy, cần xây dựng quy chế, thành lập sàn giao dịch vàng quốc gia mà chỉ những doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện về tài chính, nhân lực mới được tham gia. Làm được vậy, Nhà nước kiểm soát được dòng vốn, thu được thuế và phát huy được nguồn vốn vàng cho nền kinh tế.



Vì Sao Tiền Giấy Không Thực Hiện Được Chức Năng Cất Trữ?

277563

Phương tiện cất trữ là gì?

Phương tiện cất trữ là một trong bốn chức năng của tiền tệ, làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

Vì sao tiền giấy không thực hiện được chức năng phương tiện cất trữ?

Tiền giấy không thực hiện được chức năng phương tiện cất trữ vì bản thân tiền không mang giá trị giống như vàng, bạc.

Mục đích của việc đưa tiền (tiền giấy) vào lưu thông trong xã hội là để tiền làm vật trung gian giúp cho sự trao đổi hàng hóa của mọi người cho nhau được dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện thông qua các hoạt động mua bán trên thị trường, và qua đó sẽ giúp cho sự hoạt động, tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Ở đây bạn cũng cần lưu ý rằng nền kinh tế tăng trưởng và phát triển là hệ quả (chứ không phải là mục đích) của việc đưa tiền vào lưu thông.

Dùng tiền (tiền giấy) làm vật trung gian giúp cho sự trao đổi, trước hết mọi người sẽ đem hàng hóa (hay dịch vụ) mà mình có để bán đổi lấy tiền, sau đó mọi người sẽ dùng số tiền vừa có được đó để mua đổi lấy hàng hóa (hay dịch vụ) khác mà mình cần. Hai quá trình bán và mua đó diễn ra tuần tự riêng biệt nhau, cách nhau trong một khoảng thời gian nhất định. Khoảng thời gian cách nhau giữa việc bán và mua đó chính là khoảng thời gian cất trữ và lưu thông của tiền giấy. Mọi người cất trữ tiền giấy cũng tức là mọi người tạm thời chưa muốn dùng tiền giấy để đổi lấy hàng hóa (hay dịch vụ) mà họ chưa thật sự cần.

Tiền giấy là một loại tem phiếu đặc biệt, một loại giấy nợ đặc biệt của xã hội (các DNTM) đối với những người sở hữu nó. Mọi người cất trữ tiền giấy cũng là một cách thức gián tiếp để cất trữ hàng hóa, của cải, tài sản tạm thời chưa dùng đến của mình; và những hàng hóa, của cải, tài sản này đang được các DNTM tạm thời cất trữ và giữ hộ cho những người đang sở hữu, nắm giữ tiền giấy.

Trong ngắn hạn, tiền giấy vẫn luôn có khả năng thực hiện được chức năng cất trữ nếu như người dân vẫn có được niềm tin và tin tưởng vào giá trị (sức mua) của nó.

Trong dài hạn, nếu tiền giấy bị lạm dụng phát hành ra để tiêu xài hoặc cho vay để tiêu xài, thì sẽ dẫn đến lạm phát, giá cả hàng hóa tăng lên, giá trị sức mua của tiền giấy sẽ bị sứt mẻ và giảm sút. Do bị thiệt hại vì giá trị sức mua của tiền giấy bị giảm sút, người dân sẽ không còn muốn cất trữ tiền giấy trong dài hạn nữa mà họ sẽ chuyển tiền giấy sang thành các loại tài sản khác có giá trị bền vững hơn theo thời gian như vàng, bạc, bất động sản,….

Tóm lại, cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn, nếu tiền giấy được phát hành ra và đưa vào lưu thông chỉ với mục đích duy nhất là để tiền giấy làm vật trung gian trao đổi, giúp cho sự trao đổi hàng hóa của mọi người cho nhau trong xã hội, không lạm dụng phát hành tiền giấy ra để tiêu xài hoặc cho vay để tiêu xài, thì tiền giấy sẽ vẫn luôn có được khả năng thực hiện chức năng cất trữ một cách ổn định, lâu dài và bền vững, túi tiền của người dân sẽ không bị suy giảm giá trị sức mua theo thời gian.

Còn nữa…

Chức Năng Của Tiền Tệ

Các chức năng của tiền tệ

Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệ có 5 chức năng:

– Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:

+ Giá trị hàng hoá.

+ Giá trị của tiền.

+ Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

– Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.

Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

– Phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

– Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

– Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.