Top 1 # Vị Trí Chức Năng Của Kiểm Tra Giám Sát Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Cần Quy Định Rõ Hơn Vị Trí, Chức Năng Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác lập rõ ràng hơn việc phân công, phân nhiệm và cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, phù hợp với thông lệ lập pháp của các nước trên thế giới…

Cụ thể: Dự thảo quy định Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp; tòa án nhân dân (TAND) thực hiện quyền tư pháp. Như vậy là đã đảm bảo quyền lực nhà nước thống nhất, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, cơ chế phối hợp và kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Tuy nhiên, trong Dự thảo quy định cơ quan TAND, viện kiểm sát nhân dân (KSND) đưa vào một chương (Chương 8) là không phù hợp. Vì trong thực tế, 2 cơ quan này hoàn toàn khác nhau về tổ chức, vai trò, vị trí, nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn. TAND thực hiện quyền tư pháp. Vậy viện KSND thực hiện nhánh quyền lực nào? Chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của viện KSND ra sao trong bộ máy nhà nước? Vì thế, tôi xin góp ý như sau:

Việc xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của viện KSND như trong Dự thảo là chưa rõ ràng. Cần quy định viện KSND thành 1 chương riêng; thể hiện tính lôgic, rành mạch trong việc phân định quyền lực từng cơ quan trong chỉnh thể thống nhất quyền lực nhà nước quy định trong Hiến pháp mới năm 2013 này. Đồng thời, giao thêm nhiệm vụ, chức năng bảo vệ pháp luật, kiểm sát việc tuân theo pháp luật, kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật, truy tố tội phạm ra tòa án; ban hành kiến nghị, kháng nghị các hành vi, văn bản vi hiến đến Hội đồng Hiến pháp để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vị trí của viện KSND trong bộ máy nhà nước: Là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập với cơ quan nhà nước khác và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là một nguyên tắc cần được khẳng định trong Hiến pháp nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế, tạo điều kiện cho viện KSND thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Do đó, đề nghị bổ sung Khoản 1 Điều 112 (Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992) là: Viện KSND là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Quy định như vậy mới khẳng định đầy đủ vị trí, vai trò của Viện KSND trong bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN.

Về chức năng, nhiệm vụ của viện KSND: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để viện KSND thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”.

Viện KSND không chỉ có trách nhiệm truy tố, buộc tội kẻ phạm tội trước pháp luật mà còn có trách nhiệm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội, kịp thời xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp. Khi phát hiện các vi phạm trong hoạt động tư pháp, luật quy định cho Viện KSND thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu cá nhân, cơ quan hữu quan chấn chỉnh khắc phục vi phạm. Thực tiễn cho thấy, nhiều quyết định kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của viện kiểm sát mặc dù có căn cứ nhưng không được cơ quan hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành.

Do đó, để viện KSND thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đảm bảo tính thống nhất của pháp chế XHCN, đề nghị bổ sung Điều 112 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992: “Các quyết định kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện KSND phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành”. Quy định như vậy cũng để viện KSND đề cao vai trò, trách nhiệm của mình khi ban hành các quyết định kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp.

Luật gia Lê Hoàn

Các tin đã đưa

Vị Trí Pháp Lý Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân

Viện kiểm sát của Việt Nam được xác định như là một bộ phận quan trọng của hoạt động tư pháp bao gồm: Tòa án, Viện Kiểm sát, Điều tra cùng với các hoạt động bổ trợ tư pháp khác.

Trong hệ thống các cơ qan nhà nước xã hội chủ nghĩa trước và của Việt Nam hiện nay còn hiện diện một loại cơ quan hết sức đặc biệt. Đó là Viện Kiểm sát nhân dân. Hệ thống này được tổ chức từ Trung ương cho đến các quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh.

Địa vị pháp lý hay còn có thể gọi là vị trí pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta cũng giống như của Chính phủ rất khó định nghĩa, định danh. Viện kiểm sát là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cho nên việc tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát cũng bị chi phối bởi các nguyên tắc, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cho đến hiện nay Viện kiểm sát của Việt Nam được xác định như là một bộ phận quan trọng của hoạt động tư pháp bao gồm: Tòa án, Viện Kiểm sát, Điều tra cùng với các hoạt động bổ trợ tư pháp khác.

Khác hẳn với các Nhà nước tư sản, Nhà nước ta không tổ chức theo nguyên tắc phân quyền mà theo nguyên tắc tập quyền, nghĩa là mọi quyền lực nhà nước tập trung vào Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng điều đó không có nghĩa là Quốc hội làm tất cả, mà có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng, rành mạch giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; Quyết định những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia; Quy định tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.

Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống của hệ thống các cơ quan tư pháp trong hệ thống chung các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước Việt Nam. Chính vì tầm quan trọng này, mà cả Tòa án và Viện Kiểm sát được quy định trong một chương riêng: Chương X với tên gọi là “Tòa án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân.”

Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Tòa án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, và nhân phẩm của công dân”.

Địa vị pháp lý của Viện Kiểm sát Nhân dân có rất nhiều yếu tố cấu thành bằng các quy định pháp luật, khi pháp luật quy định về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, các cách thức hoạt động… của Viện Kiểm sát. Hay nói một cách khác, mọi quy định của pháp luật về Việm Kiểm sát dù ít, dù nhiều đều góp phần cho phép chúng ta khắc họa nên địa vị pháp lý của Viện Kiểm sát.

Những quy phạm có ý nghĩa hơn cả là Điều 137 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hiện hành. Điều này quy định:

“Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp , góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”.

Theo quy định của Hiến pháp năm 12013, chức năng của Viện kiểm sát được điều chỉnh không còn nhiệm vụ kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, mà tập trung vào công tác công tố – buộc tội và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các haọt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình.

Các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, và thực hành quyền công tố trong phạm vi quân đội.

Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác sau đây:

(i) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và của các cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

(ii) Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp;

(iii) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự;

(iv) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù (Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002).

Bài viết được thực hiện bởi: thạc sĩ, luật sư Phạm Ngọc Minh – Giám đốc Công ty Luật TNHH Everest, Giảng viên khoa Luật kinh tế – Trường Đại học Hòa Bình

Báo Cáo Công Tác Tự Kiểm Tra Việc Thực Hiện Nhiệm Vụ Kiểm Tra, Giám Sát Của Chi Bộ Theo Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn

BÁO CÁO Công tác tự kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của chi bộ theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn I. Khái quát tình hình của chi bộ

Căn cứ vào nghị quyết chi bộ trường MN Hương Sen nhiệm kỳ 2015-2017;

Căn cứ vào quy chế làm việc của chi ủy và chi bộ nhiệm kỳ 2015-2017 của chi bộ trường MN Hương Sen.

Thực hiện kế hoạch số 04 – KH/UBKT ngày 14/10/2016 về việc báo cáo việc kiểm tra, giám sát của chi bộ theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn

– Đặc điểm tình hình của chi bộ:

+ Tổng số đảng viên của chi bộ: 13 đ/c (trong đó dự bị 04 đ/c)

– Ngày 4/12/2015 kết nạp: 1 đ/c.

– Ngày 7/10/2016 kết nạp: 3 đ/c

+ Đảng viên được miễn công tác, miễn sinh hoạt: Không.

+ Đảng viên sinh hoạt tạm thời: Không.

+ 3 đ/c BGH đã qua lớp trung cấp lý luận chính trị.

Chi bộ nhà trường đạt danh hiệu chi bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu năm 2015 . Chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường là lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của ngành giáo dục là tổ chức tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tuổi mầm non. Trong quá trình thực hiện công tác chi bộ có những khó khăn, thuận lợi như sau:

Tập thể chi bộ luôn đoàn kết, thống nhất, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, 100% đảng viên có trình độ chuyên môn đại học và cao đẳng, có nhận thức đúng đắn, có lập trường chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt.

Là chi bộ trường học, đảng viên làm việc tập trung tại trường, là đồng nghiệp, do đó rất thuận lợi trong việc quán triệt và thực hiện nghị quyết Đảng các cấp, nghị quyết chi bộ và công tác thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của chi bộ.

– Cấp ủy chi bộ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, thời gian dành cho công tác tự kiểm tra còn ít và dựa trên công tác đặc thù của chuyên môn

II. Việc thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra giám sát 1. Việc lãnh đạo triển khai các văn bản của trung ương, của tỉnh, thành ủy và của Đảng ủy về công tác kiểm tra giám sát.

– Tháng 3/2015 đại hội chi bộ xong, chi bộ đã xây dựng nghị quyết nhiệm kỳ 2015-2017 và đã xây dựng quy chế làm việc.

Đã phân công cho 10 đ/c đảng viên từ tháng 3/2015; tháng 10/2016 bổ sung phân công cho 3 đ/c đảng viên mới kết nạp.

– Chi bộ đã xây dựng quy chế làm việc của chi ủy và chi bộ nhiệm kỳ 2015-2017, đã phân công cho các đ/c đảng viên, đ/c phó bí thư về công tác kiểm tra giám sát của chi bộ, giám sát đối với đảng viên.

– Chi bộ đã thực hiện nhiệm vụ, chương trình công tác kiểm tra theo từng công tác kiểm tra theo từng tháng, quý năm theo kế hoạch nghị quyết đã đề ra

– Thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn theo quy định của điều lệ đảng

– Chi bộ tổ chức quán triệt triển khai các văn bản của các cấp như quy định, hướng dẫn thi hành điều lệ đảng, trong đó chương VII công tác kiểm tra, giám sát của đảng và ủy ban kiểm tra các cấp, điều 30,31,32,33.

– Triển khai công văn số: 01-CTr/UBKT ngày 30/7/2015 về chương trình công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra đảng ủy khóa XI nhiệm kỳ 2015-2020.

– Chi bộ đã thực hiện công tác kiểm tra giám sát theo chức trách nhiệm vụ được phân công dựa trên nhiệm vụ của từng đ/c đảng viên, có sơ kết, tổng kết cùng với đánh giá công tác lãnh đạo theo tháng, quý, sáu tháng, một năm.

2. Việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra giám sát.

– Chi bộ đã xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình kiểm tra giám sát, phân công cho đ/c phó bí thư chi bộ phụ trách công tác kiểm tra giám sát là đ/c Nguyễn Thanh Giang.

– Chi bộ đã gửi quy chế làm việc + phân công nhiệm vụ cho từng đ/c đảng viên trong chi bộ.

– Chi bộ kiểm tra 100 % đảng viên sinh hoạt trong chi bộ theo kế hoạch phân công cụ thể

– Kiểm tra đảng viên thực hiện chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng; thực hiện nhiệm vụ đảng viên:

+ Nội dung kiểm tra: Việc thực hiện chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng; thực hiện nhiệm vụ đảng viên

+ Kết quả kiểm tra: Không có trường hợp nào vi phạm

– 100 % đảng viên chấp hành cương lĩnh chính trị, điều lệ đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị quy định của đảng của cấp ủy, cấp trên, và của đảng ủy, pháp luật của nhà nước.

– Các đ/c trong chi bộ luôn chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc chế độ công tác thực hiện dân chủ trong đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ.

– Các đ/c đảng viên trong chi bộ luôn nêu cao vai trò trách nhiệm, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên

* Đánh giá chung: Chi bộ luôn coi trọng việc lãnh đạo, tổ chức, triển khai, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng các cấp. Bước đầu đã lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát góp phần ngăn ngừa, phát hiện và khắc phục những thiếu sót của đảng viên trong chi bộ, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật trong đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Chi bộ.

– Ưu điểm: Chi bộ đã xây dựng được kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát. Qua kiểm tra đã đánh giá được việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng đảng, kịp thời nhắc nhở đảng viên hoàn thành tốt nhiệm v ụ được giao.

– Nguyên nhân: Do cấp ủy chưa được tập huấn về nghiệp vụ kiểm tra công tác đảng và còn kiêm nhiệm nhiều công tác chính quyền, chuyên môn, đoàn thể, thời gian hạn hẹp, còn tập trung nhiều vào công tác chuyên môn.

+ Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát trước hết phải luôn xác định công tác kiểm tra, giám sát là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên của công tác xây dựng Đảng;

+ Phải xây dựng chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát cụ thể, trong đó xác định rõ nội dung và đối tượng được kiểm tra, giám sát;

+ Trong công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện đúng các quy định, trình tự thủ tục và hướng dẫn của tổ chức đảng cấp trên; trước khi ban hành kết luận kiểm tra, giám sát, kết quả kiểm tra phải được báo cáo Chi ủy và báo cáo xin ý kiến các đảng viên tại các cuộc sinh hoạt Chi bộ.

+ Chi ủy luôn quan tâm, tập trung sự lãnh đạo đối với công tác kiểm tra, giám sát; trong nội dung kiểm tra, giám sát cần chú trọng đến tình hình chính trị tư tưởng và rèn luyện phẩm chất đạo đức của đảng viên; tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

+ Chi ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát đã ban hành; đảm bảo thực hiện đúng quy định, quy trình thủ tục, kịp thời, linh hoạt và tính hiệu quả trong công tác kiểm tra, giám sát;

+ Chi ủy thường xuyên bám sát công tác lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng cấp trên, tình hình thực tế của cơ quan để kịp thời điều chỉnh, bổ sung nội dung và hình thức kiểm tra, giám sát đảm bảo phù hợp, thiết thực, hiệu quả; đồng thời báo cáo, xin ý kiến tổ chức đảng cấp trên xem xét, hướng dẫn xử lý những khó khăn vướng mắc trong hoạt động kiểm tra, giám sát.

+ Chi ủy tăng cường công tác theo dõi, đánh giá việc thực hiện các kết luận và kiến nghị sau kiểm tra, giám sát đối với các đảng viên;

+ Căn cứ vào tính chất và nội dung kết luận các cuộc kiểm tra, giám sát, Chi ủy xem xét tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm sau các cuộc kiểm tra, giám sát hoặc gắn với hội nghị kiểm điểm đánh giá Chi ủy Chi bộ cuối năm.

5. Những đề xuất, kiến nghị:

Khái Quát Về Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Tổ Chức, Hoạt Động Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam

Trụ sở Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 1960 bằng một đạo luật là Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960. Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập trong cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước.

Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam là một hệ thống độc lập và được được tổ chức ở 4 cấp, gồm:

– Viện kiểm sát nhân dân tối cao

– Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (hiện có 3 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh)

– Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (hiện có 63 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh).

– Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hiện có 691 Viện kiểm sát cấp huyện tại 691 quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh).

Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có các Viện kiểm sát quân sự, gồm:

– Viện kiểm sát quân sự Trung ương.

– Viện kiểm sát quân sự cấp Quân khu, Quân chủng, Quân đoàn…

– Viện kiểm sát quân sự cấp Khu vực.

Toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp đặt dưới sự quản lý, chỉ đạo và điều hành của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội, có nhiệm kỳ cùng với nhiệm kỳ Quốc hội là 5 năm. Một người chỉ được bầu làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không quá 2 nhiệm kỳ.

Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước, chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Quốc hội.

Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân.

Phó Viện trưởng giúp Viện trưởng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Viện trưởng. Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được uỷ nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Viện kiểm sát. Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao.

2. Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam

Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Viện kiểm sát kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình.

Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.

Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

3. Các chức danh tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân

Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có các Kiểm sát viên, Điều tra viên, Kiểm tra viên.

– Kiểm sát viên được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

– Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân tối cao được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra tội phạm.

– Kiểm tra viên: giúp Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh doanh thương mại và những việc khác theo quy định của pháp luật; trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; thi hành các bản án: trong công tác xét khiếu tố và một số nhiệm vụ pháp lý khác do Viện trưởng phân công. Giúp lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân kiểm tra hồ sơ, hoặc trực tiếp kiểm tra các vụ án thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân.

TẬP THỂ LÃNH ĐẠO VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO

Viện trưởng VKSND tối caoLê Minh Trí

Nguyễn Hải Phong

Nguyễn Thị Thuỷ Khiêm

Lê Hữu Thể

Trần Công Phàn

Phó Viện trưởngVKSND tối cao

Phó Viện trưởngVKSND tối caoViện trưởng VKSquân sự trung ương

Bùi Mạnh Cường

Nguyễn Văn Khánh

CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO:

1. VĂN PHÒNG

2. VỤ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ÁN AN NINH (VỤ 1)

3. VỤ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ÁN TRẬT TỰ XÃ HỘI (VỤ 2)

4. VỤ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ÁN KINH TẾ (VỤ 3)

5. VỤ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ÁN MA TÚY (VỤ 4)

6. VỤ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ÁN THAM NHŨNG, CHỨC VỤ (VỤ 5)

7. VỤ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA ÁN XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP, THAM NHŨNG, CHỨC VỤ XẢY RA TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP (VỤ 6)

8. VỤ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ HÌNH SỰ (VỤ 7)

9. VỤ KIỂM SÁT VIỆC TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ (VỤ 8)

10. VỤ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC DÂN SỰ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (VỤ 9)

11. VỤ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH, VỤ VIỆC KINH DOANH, THƯƠNG MẠI, LAO ĐỘNG VÀ NHỮNG VIỆC KHÁC THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT (VỤ 10)

12. VỤ KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ (VỤ 11)

13. VỤ KIỂM SÁT VÀ GIẢI QUYẾT ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP (VỤ 12)

14. VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ (VỤ 13)

15. VỤ PHÁP CHẾ VÀ QUẢN LÝ KHOA HỌC (VỤ 14)

16. VỤ TỔ CHỨC CÁN BỘ (VỤ 15)

17. VỤ THI ĐUA – KHEN THƯỞNG (VỤ 16)

18. CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO (CỤC 1)

19. CỤC THỐNG KÊ TỘI PHẠM VÀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN (CỤC 2)

20. CỤC KẾ HOẠCH – TÀI CHÍNH (CỤC 3)

21. THANH TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO (T1)

22. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI (T2)

23. TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ KIỂM SÁT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (T3)

24. TẠP CHÍ KIỂM SÁT (T4)

25. BÁO BẢO VỆ PHÁP LUẬT (T5)