Top 10 # Vị Trí Chức Năng Của Tủy Sống Và Trụ Não Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Chức Năng Của Dịch Não Tủy

Dịch não tủy là chất lỏng, trong, không màu có ở xung quanh não và tủy sống. Khi bác sĩ nghĩ rằng bạn bị mắc các bệnh có ảnh hưởng đến hệ thần kinh (đặc biệt hệ thần kinh trung ương), bạn có thể sẽ được chỉ định xét nghiệm dịch não tủy.

1. Dịch não tủy là gì?

Dịch não tủy được tạo ra bởi một nhóm các tế bào, được gọi là đám rối mạch mạc, nằm sâu trong não thất; trung bình mỗi người lớn có khoảng 150 ml dịch não tủy. Khi chất lỏng không màu này chảy xung quanh não và tủy sống, nó làm đệm cho các cơ quan này, cung cấp các chất cần thiết cho não từ máu và loại bỏ các chất thải từ các tế bào não. Đôi khi dịch não tủy có thể có những thứ không nên có, như vi khuẩn hoặc virus có thể tấn công não và gây ra những bệnh nghiêm trọng.

2. Nguồn gốc của dịch não tủy

Dịch não tuỷ được sinh ra từ đám rối mạch mạc (cơ bản ở não thất bên), chứa đầy trong các não thất bên, qua lỗ Monro vào não thất III, qua lỗ Luschka vào khoang dưới nhện của não và qua lỗ Magendie thông với khoang dưới nhện của tủy sống;

Dịch não tuỷ được hấp thu trở lại tĩnh mạch bởi các hạt Pacchioni. Bình thường, cứ mỗi giờ có khoảng 20ml dịch não tuỷ được sinh ra và đồng thời một số lượng dịch não tuỷ đúng như vậy cũng được hấp thu;

Trung bình trong vòng 24 giờ, dịch não tuỷ của người được thay đổi 3 lần.

Các thành phần sinh học của dịch não tuỷ được điều hoà thường xuyên bởi các vùng liên diện. Đó là hệ thống các hàng rào máu – não, máu – dịch não tuỷ (các đám rối màng mạch) và dịch não tuỷ – máu (các hạt Pacchioni của màng não).

3. Thành phần của dịch não tuỷ

3.1. Thành phần tế bào

Trong dịch não tủy của người lớn bình thường mỗi microlite có 0 – 5 lympho bào (lymphocytes) hoặc tế bào đơn nhân (Mononuclear cells), không có tế bào đa nhân (Polymorphonuclear cells) và hồng cầu.

3.2. Các thành phần khác

Protein = 38,2 mg/dL và IgG là 9,9

Glucose = 61 mg/dL (65% của trị số trong huyết tương).

Chlorid = 124 mEq/L (120% trị số trong huyết tương).

Lipid = 1,25 mg/dL, gồm có phospholipids, nonphosphorus sphingolipids, cholesterol, cholesterol esters và mỡ trung tính

Các thành phần khác có số lượng rất ít.

Một số lớn các chất có trong dịch não tủy cũng thấy trong máu nhưng không phải là chất nào có trong máu đều thấy có trong dịch não tủy. Thí dụ: Beta-Lipoprotein và Fibrinogen không thấy trong Dịch não tủy. Vì vậy phải luôn luôn thực hiện đo các chất trong máu cùng lúc để so sánh với lượng chất đó trong dịch não tủy, đặc biệt là Glucose và ion Chloride.

Protein: Dịch não tủy ở não thất chứa độ 10 mg, ở bể lớn 20 mg, ở khoang dưới nhện cột sống thắt lưng là 40 mg/dL.

Glucose: não thất 60 mg/dL, ở bể lớn 50 mg/dL, ở khoang dưới nhện cột sống thắt lưng là 40 mg/dL.

4. Chức năng của dịch não tủy

Ở giai đoạn bào thai sớm: dịch não tủy có nhiệm vụ nuôi dưỡng, chức năng đó mất dần khi bào thai lớn lên.

Dịch não tủy làm trơn và là chất đệm giữa não và tuỷ sống với khung màng cứng và xương cứng bên ngoài (sọ, cột sống). Bảo vệ não và tủy sống chống lại những sang chấn cơ học, đồng thời tham gia vào nhiệm vụ dinh dưỡng, chuyển hóa của hệ thần kinh trung ương;

Về phương diện miễn dịch, dịch não tủy tác dụng như nơi lan tỏa của dịch viêm (bạch cầu và Globulin gamma) và Globulin gamma được tổng hợp trong hệ thần kinh.

Chức năng kích thích tố tìm thấy trong dịch não tủy vẫn chưa rõ ràng.

5. Xét nghiệm dịch não tủy để xác định bệnh

Hàm lượng Immunoglobulin tăng cao trong dịch não tủy, có thể là dấu hiệu của bệnh đa xơ cứng.

Dịch não tủy bị đổi màu: màu đỏ có thể xuất huyết não (chảy máu trong não), màu vàng (lao màng não),….

Dấu hiệu nhiễm vi khuẩn hoặc virus có thể cho bác sĩ biết người bệnh bị bệnh như viêm màng não hoặc viêm não.

6. Các phương pháp lấy dịch não tủy

6.1. Để lấy dịch não tuỷ, có thể đi qua 3 con đường

Lấy từ não thất (thường được tiến hành kết hợp trong khi phẫu thuật);

Lấy từ bể lớn (phương pháp chọn lọc bể lớn hay chọc dưới chẩm), chỉ định trong những trường hợp đặc biệt;

Lấy từ khoang dưới nhện cột sống thắt lưng (chọc ống sống thắt lưng), là con đường thường được chỉ định trong thực tế lâm sàng;

Dịch não tủy được lấy từ những vị trí khác nhau có thành phần sinh hóa khác nhau. Phương pháp chọc ống sống thắt lưng xét nghiệm dịch não tủy là phương pháp chẩn đoán quan trọng thường được sử dụng trong lâm sàng.

6.2. Chỉ định:

Xét nghiệm dịch não tủy có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện, chẩn đoán và điều trị bệnh.

Nghiên cứu về áp lực dịch não tuỷ, sự lưu thông dịch não tuỷ: tốc độ tăng trong trường hợp tăng áp lực nội sọ (có choáng chỗ nội sọ), tốc độ giảm trong chèn ép tủy sống (u tủy sống),..

Xét nghiệm dịch não tuỷ (biến đổi sinh hoá, tế bào, vi sinh vật, độ pH, định lượng các men, các chất dẫn truyền thần kinh….);

Chụp tuỷ, chụp bao rễ có bơm thuốc cản quang… (hiện nay ít sử dụng vì có MRI hỗ trợ)

Đưa thuốc đặc hiệu vào khoang dưới nhện tủy sống.

Đưa các thuốc gây tê cục bộ phục vụ mục đích phẫu thuật.

Đưa các thuốc kháng sinh, các thuốc chống ung thư, corticoide … để điều trị các bệnh của hệ thần kinh trung ương hoặc các bệnh dây- rễ thần kinh.

Để theo dõi kết quả điều trị

Tăng áp lực trong sọ

U não

Phù nề não nặng

Tổn thương tuỷ cổ

Nhiễm khuẩn ở vùng da thắt lưng (vùng chọc kim)

Rối loạn đông máu (bệnh ưa chảy máu, giảm tiểu cầu, bệnh nhân đang điều trị chống máu đông).

6.3. Chống chỉ định

Tụt kẹt não

Nhiễm khuẩn (áp xe vị trí chọc, viêm màng não mủ…)

Đau đầu sau chọc ống sống thắt lưng

Chảy máu (gây ổ máu tụ ngoài màng cứng hoặc chảy máu dưới nhện…)

6.4. Các tai biến và biến chứng có thể gặp:

Thạc sĩ. Bác sĩ Bùi Ngọc Phương Hòa đã có hơn 24 năm công tác trong lĩnh vực chuyên khoa Tâm thần kinh. Bác sĩ Hòa nguyên là Phó Trưởng Khoa Thần Kinh – Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Quảng Ngãi và từng tham gia nhiều khóa đào tạo liên tục về Động Kinh, Tai Biến mạch máu não, Alzheimer, Rối loạn vận động, Lão khoa. Bệnh lý Nội Tiết.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bài viết tham khảo nguồn: chúng tôi

Xương Trụ: Vị Trí, Chức Năng Và Bệnh Lí Thường Gặp

1.1. Xương trụ và khớp gần

Đầu gần của xương trụ ăn khớp với ròng rọc của xương cánh tay. Vị trí này cho phép chuyển động ở khớp khuỷu tay. Ngoài ra, xương được thiết kế có cấu trúc chuyên biệt, với các điểm nổi bật là xương để gắn cơ.

1.2. Xương trụ và khớp xa

Đầu xa của xương trụ có đường kính nhỏ hơn nhiều so với đầu gần. Nó hầu như không có gì đáng chú ý, có những sợi dây chằng nối với xương cổ tay.

Dây chằng chéo ở giữa của khuỷu tay giúp 2 xương cẳng tay phối hợp cử động với nhau khi xoay.

2.1. Gãy xương trụ

2.1.1. Triệu chứng

Gãy xương trụ có thể xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào vị trí gần xương cổ tay, đoạn ở giữa xương trụ hoặc gần phía khuỷu tay. Chúng có thể xảy ra thông qua một lực trực tiếp vào cẳng tay hoặc chấn thương gián tiếp do lực từ cánh tay.

Gãy xương trụ có thể xảy ra như một vết gãy đơn lẻ hoặc kết hợp gãy thêm xương quay. Ngoài ra, có thể trật khớp cổ tay hoặc khớp khuỷu tay. Khi cả hai xương bị gãy kèm theo chấn thương khớp ở cổ tay hoặc khuỷu tay, chúng được mô tả là gãy xương Galeazzi hoặc Monteggia.

Gãy xương khiến cẳng tay bị đau và sưng tấy và có xu hướng biến dạng. Bạn sẽ không thể sử dụng cánh tay và cẳng tay sẽ có xu hướng gập xuống. Bạn có thể cảm thấy các mảnh xương di chuyển khi cố gắng sử dụng cánh tay. Ngoài ra, có thể chảy máu từ chỗ gãy vào các mô của cẳng tay gây sưng đáng kể. Bạn có thể tìm hiểu thêm thông tin tại “Gãy xương: Dấu hiệu nhận biết và cách xử trí sao cho hợp lí?”

2.1.2. Phương pháp điều trị

Đánh giá gãy xương bằng cách chụp X-quang cẳng tay bao gồm khớp khuỷu tay và khớp cổ tay. Bác sĩ sẽ tìm bằng chứng tổn thương đối với dây thần kinh và mạch máu ảnh hưởng đến cẳng tay để nhanh chóng điều trị.

Có thể điều trị gãy xương bằng cách cố định xương trụ thông qua bó bột trong khoảng 4 đến 6 tuần. Bác sĩ sẽ theo dõi chặt chẽ tiến trình của bạn bằng chụp X-quang để đảm bảo xương không bị gãy thêm hay di lệch. Trong thời gian này, không được phép dùng tay để nâng và mang vật nặng.

Sau khi tháo băng bột, bạn sẽ bắt đầu vật lý trị liệu với các bài tập cụ thể để tập chuyển động của khuỷu tay, cổ tay và cách xoay của cẳng tay. Tùy theo tình trạng vết thương đang lành mà các bài tập mang vật nặng khác nhau sẽ được thực hiện.

Phẫu thuật được thực hiện trong hầu hết các trường hợp gãy xương ở cẳng tay. Nếu gãy hở thì cần phải phẫu thuật ngay lập tức để giảm nguy cơ nhiễm trùng. Gãy hở xảy ra khi có một vết rách trên da tại vị trí gãy. Điều này có thể do hai đầu của vết gãy đâm ra ngoài da hoặc do một vật đâm thủng da từ bên ngoài. Các xương gãy sẽ được cố định với nẹp và vít. Bạn thường không nên vận động trong thời gian đầu sau phẫu thuật, có thể khoảng 6 tuần tùy vào mức độ nghiêm trọng của vết thương.

2.2. Đau cổ tay trụ

Thuật ngữ “cổ tay” được sử dụng để mô tả khớp nơi bàn tay được nối với cẳng tay. Giải phẫu thực tế của cổ tay không đơn giản như vậy. Có tám xương nhỏ kết nối năm xương ở bàn tay với hai xương cẳng tay (xương quay và xương trụ). Đau cổ tay trụ (đau ở phía ngón út của cổ tay) rất phổ biến. Nó có thể do chấn thương xương, sụn hoặc dây chằng. Khi xương trụ dài hơn xương quay, có thể gây đau cổ tay trụ.

2.2.1. Nguyên nhân

Do có nhiều thành phần ở bên phía “ngón út” của cổ tay, việc xác định nguyên nhân gây đau cổ tay có thể rất khó khăn. Bác sĩ bàn tay sẽ khám cổ tay của bạn để xem vị trí đau ở đâu và cách cổ tay cử động. Chụp X-quang có thể được thực hiện. Đôi khi có thể cần chụp CT hoặc MRI.

Một số nguyên nhân gây ra đau cổ tay bao gồm:

Gãy xương cổ tay.

Viêm các khớp giữa các xương.

Hội chứng xương trụ chèn ép (khi xương trụ dài hơn xương quay, có thể khiến nó “va vào” các xương cổ tay).

Viêm dây chằng làm mất khả năng gập hay ngửa cổ tay.

Tổn thương phức tạp sụn hình tam giác (TFCC) (khi dây chằng kết nối giữa xương trụ và các cấu trúc khác ở cổ tay bị rách do chấn thương hoặc mòn theo thời gian).

Tổn thương hoặc chèn ép dây thần kinh.

Khối u, phổ biến nhất là u nang hạch, lành tính.

2.2.2. Triệu chứng

Có thể cảm thấy đau khi nghỉ ngơi hoặc khi cử động. Các triệu chứng có thể bao gồm:

Đau ở bên “ngón út” của cổ tay khi cử động.

Giảm hoặc hạn chế chuyển động.

Việc điều trị đau cổ tay trụ phụ thuộc vào chẩn đoán. Nó có thể bao gồm một số sự kết hợp của điều chỉnh hoạt động, nẹp hoặc bó bột, thuốc chống viêm. Nếu không làm giảm các triệu chứng, phẫu thuật có thể được xem xét.

Chia sẻ thông tin hữu ích này cho mọi người trên:

Nêu Chức Năng Của Tủy Sốngchức Năng Của Tủy Sống

Tủy sống có ba chức năng chính là:

Nơi truyền hưng phấn từ các đường thần kinh cảm giác đến các cơ quan vận động.

Trung gian giữa hệ thần kinh trung ương (não bộ) và các bộ phận của cơ thể.

Tuỷ sống tham gia và thực hiện 3 chức năng chủ yếu là: chức năng phản xạ, chức năng dẫn truyền và chức năng dinh dưỡng.

+ Chức năng phản xạ. Chức năng phản xạ của tuỷ sống do phần chất xám trong tuỷ sống đảm nhận. Đó là các loại phản xạ tự nhiên, được xem là những phản xạ bản năng để bảo vệ cơ thể. Có 3 loại nơ ron đảm nhận chức năng phản xạ là nơron cảm giác, nằm ở rễ sau, dẫn xung cảm giác vào chất xám. Nơron liên lạc dẫn xung thần kinh ra sừng trước. Nơ ron vận động, nằm ở rễ trước, dẫn truyền xung vận động đến cơ vân và các cơ quan thừa hành.

Tuỷ sống điều tiết mọi hoạt động như các hoạt động niệu – sinh dục, nhịp hô hấp, hoạt động tim mạch. Tuỷ sống là trung tâm cấp thấp của vận động cơ toàn thân. Tuỷ sống tham gia và thực hiện các phản xạ vận động phức tạp, đồng thời là nơi giao tiếp của các phản xạ vận động.

Các phản xạ tuỷ điển hình như:

– Phản xạ da. Xuất hiện khi kích thích lên da. Trung tâm của phản xạ da nằm ở đoạn tuỷ ngực 11, 12

– Phản xạ gân. Xuất hiện khi kích thích lên gân (ví dụ gõ lên gân bánh chè lúc ngồi trên ghế). Trung tâm của phản xạ này nằm ở đoạn tuỷ thắt lưng 2- 4

– Phản xạ trương lực cơ. Giúp cơ luôn ở trạng thái trương lực. Nếu cắt đứt dây thần kinh vận động đùi thì cơ đùi sẽ mất trương lực, cơ sẽ mềm nhũn.

+ Chức năng dẫn truyền. Chức năng dẫn truyền của tuỷ sống do phần chất trắng đảm nhận. Chất trắng của tuỷ sống là những đường dẫn truyền xung thần kinh từ thụ quan lên não và từ não qua tuỷ sống đến các cơ quan đáp ứng. Ngoài ra trong chất trắng của tuỷ sống còn có các đường dẫn truuyền ngắn nối các đốt tuỷ sống với nhau.

+ Chức năng dinh dưỡng. Chức năng dinh dưỡng được thực hiện bởi các nơron dinh dưỡng trong tuỷ sống chi phối và chịu sự điều khiển của một đoạn tuỷ (Ví dụ, phản xạ bàng quang, phản xạ hậu môn, phản xạ vận mạch, phản xạ tiết mồ hôi).

Như vậy, tuỷ sống là trung khu thần kinh cấp thấp dưới vỏ, điều khiển các phản xạ không điều kiện.

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tủy Sống

Kết cấu và chức năng của tủy sống

Tủy sống là phần trung khu thần kinh nằm trong ống cột sống, chứa các dây thần kinh liên hệ từ não đến toàn bộ cơ thể. Trong kết cấu và chức năng của hệ thần kinh, dây thần kinh tủy hoạt động thông qua chức năng của rễ tủy, còn chức năng của tủy sống được tạo nên là chất xám và chất trắng trong các đốt sống.

Kết cấu của tủy sống

Tủy sống nằm cạnh trong ống cột sống, được phủ quanh bởi ba lớp màng: màng cứng ở ngoài cùng, ở giữa là màng nhện, màng trong cùng gọi là màng nuôi.

Chất xám: Nằm cạnh sát trong chất trắng, có hình chữ H, mỗi bên chia thành sừng trước, sừng sau, ở đoạn ngực có thêm sừng bên. Chất xám được tạo bởi các thân và tua ngắn của đa số tế bào thần kinh.

Chất trắng: Nằm ở phía ngoài bao quanh chất xám, được tạo nên là các sợi trục của nơron tủy tạo thành các đường dẫn truyền xung động thần kinh đi lên não hoặc từ não đi xuống. Ở mỗi bên tủy sống, phần chất trắng tạo thành 3 cột: trước, sau, bên. Mỗi cột có nhiều bó gồm: bó hướng tâm, li tâm và bó liên hợp.

Chức năng của tủy sống

Chức năng dẫn truyền: chức năng này do phần chất trắng của tủy sống đảm nhận. Chất trắng là những đường dẫn truyền xung thần kinh từ thụ quan lên não và từ não qua tuỷ sống đến các đơn vị đáp ứng. Ngoài ra bên trong chất trắng còn tồn tại các đường dẫn truyền ngắn nối các đốt tuỷ sống với nhau.

Chức năng dinh dưỡng: chức năng này được thực hiện bởi các nơron dinh dưỡng trong tuỷ sống và chịu sự điều khiển và tinh chỉnh của một đoạn tuỷ (Ví dụ như: phản xạ tiết mồ hôi, phản xạ bóng đái, phản xạ hậu môn,…).

Chức năng phản xạ: chức năng này do phần chất xám trong tuỷ sống đảm nhận. Đây là loại phản xạ tự nhiên, theo bản năng để bảo vệ cơ thể. Tủy sống điều tiết mọi hoạt động như nhịp hô hấp, hoạt động tim mạch, hoạt động niệu – sinh dục. Nó tham gia và chi phối các phản xạ quan trọng, được gọi là phản xạ tủy. Các phản xạ tủy điển hình như: phản xạ da, phản xạ gân và phản xạ tương trợ lực.

Kết cấu dây thần kinh tủy và chức năng của rễ tủy

Dây thần kinh tủy là một bộ phận ngoại biên của hệ thần kinh. Nó giữ một vai trò rất quan trọng rất quan trọng của con người. Để tìm hiểu chức năng của rễ tủy trong dây thần kinh tủy, thì trước hết tất cả chúng ta hãy xem kết cấu của dây thần kinh tủy.

Kết cấu của dây thần kinh tủy

Gồm có 31 dây thần kinh tủy, mỗi dây tủy gồm có 2 rễ: rễ trước là rễ vận động, rễ sau là rễ cảm giác. Các rễ này đi thoát ra khỏi lỗ gian đốt tạo thành các dây thần kinh tủy.

Tại sao nói dây thần kinh tủy là dây pha giải thích? – Dây thần kinh tủy do các bó sợi vận động và cảm giác nhập lại tạo thành, nối với tủy sống qua rễ trước và rễ sau, vì vậy dây thần kinh được gọi là dây pha.

Chức năng của rễ tủy

Hệ thần kinh là một thể thống nhất, nó chi phối mọi hoạt động của cơ thể. Vì vậy, mọi bộ phận kết cấu nên hệ thần kinh như tủy sống, dây thần kinh,… đều giữ một vai trò không thể thay thế. Hy vọng thông qua nội dung bài viết chức năng của rễ tủy sẽ cung cấp những kiến thức cần thiết phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu của bạn!

Để biết được chức năng của dây thần kinh tủy thì nên cần nắm rõ được chức năng của rễ trước và rễ sau. Chức năng của rễ tủy là:

Như vậy, dựa vào chức năng của rễ tủy tất cả chúng ta có thể Tóm lại rằng chức năng của dây thần kinh tủy là dẫn truyền các xung vận động và xung cảm giác.