Top 1 # Vị Trí Và Chức Năng Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Với Chức Năng Của Đội Quân Công Tác

(chiasekienthucnet)-Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay) được thành lập. Kể từ đó, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ khi được thành lập đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội đã luôn sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân, lập nên những chiến công hiển hách, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài, thống nhất Tổ quốc. Trong thời bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tốt vai trò chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất đặc biệt đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; vận động quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở các cấp, các đơn vị Quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận trên địa bàn đóng quân, luôn xung kích đi đầu trong xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng kinh tế khó khăn của cả nước. Tích cực hướng dẫn chính quyền địa phương, bà con nhân dân trên địa bàn đóng quân xóa đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Đặc biệt Quân đội tích cực tham gia phòng chống lụt, bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ tài nguyên, môi trường…

Bác Hồ gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc

Tuy nhiên, với mục đích phi chính trị hóa Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội. Các thế lực thù địch ra sức chống phá bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Bằng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Mặt khác, chúng tán phát tài liệu, tung tin đồn nhảm, gán ghép, ngụy tạo hình ảnh để vu cáo, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân trên các diễn đàn, mạng xã hội… để hòng đạt mục đích của chúng. Đặc biệt thông qua các việc làm của Quân đội với chính quyền, nhân dân địa phương trên cả nước để chúng vu cáo, nói sấu làm mất đi hình ảnh tốt đẹp của Quân đội trong thực hiện chức năng đội quân công tác của mình.

Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải cảnh giác, trước những âm mưu của các thế lực thù địch tẩy chay những thông tin độc hại, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin ảo. Làm tốt công tác tư tưởng, giữ vững mặt trận văn hóa tư tưởng không cho kẻ xấu lợi dụng chống phá. Làm tốt công tác giáo dục làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhận thức rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, nhiệm vụ đối với mặt công tác quan trọng này. Từ đó, đề cao trách nhiệm của cán bộ, chiễn sĩ trong tổ chức thực hiện; vận dụng cụ thể vào từng công việc, trên từng lĩnh vực, địa bàn, xây dựng mô hình dân vận phù hợp, hiệu quả. Được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, phương tiện; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn; khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc, vi phạm kỷ luật dân vận, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Thường xuyên bám sát tình hình địa bàn, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, chủ động tham mưu, đề xuất, với chính quyền cơ sở những biện pháp lãnh đạo sát đúng; tích cực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác là truyền thống của Quân đội ta từ khi thành lập đến nay, làm đẹp phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ – Bộ đội của dân. Đây là nhân tố quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò chức năng, nhiệm vụ của mình.

ĐNG (chiasekienthucnet)

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Trải qua suốt chiều dài lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, mỗi bước phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam đều gắn liền với quá trình phát triển chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Việc xác định đúng đắn chức năng, nhiệm vụ của quân đội và lãnh đạo quân đội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; luôn giữ vững và phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”; là lực lượng chính trị quan trọng của Đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cách mạng, của đất nước. Cuốn sách Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nội dung cuốn sách tập trung trình bày về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua các thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Theo các tác giả, chức năng, nhiệm vụ của quân đội là sự phản ánh bản chất chính trị – xã hội của quân đội kiểu mới, đồng thời phản ánh thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam là vấn đề có tính bản chất của một quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong cuốn sách đã viết: Là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, sinh ra ở một nước nông nghiệp phương Đông, Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là một quân đội nhiều chức năng: chức năng chiến đấu, chức năng công tác, chức năng lao động sản xuất. Trong đó chức năng cơ bản hàng đầu là chức năng chiến đấu. Đặc biệt, các chức năng, nhiệm vụ này của Quân đội nhân dân Việt Nam trong từng thời kỳ (kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ, cứu nước, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa) không ngang bằng nhau nhưng thống nhất trong bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từng chức năng, nhiệm vụ này sẽ được phân tích khá cụ thể trong chương II, chương III, chương IV của cuốn sách.

Từ góc độ nghiên cứu tổng kết lý luận, phần cuối cuốn sách đã rút ra 4 bài học về xác định và tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân hơn 67 năm xây dựng và trưởng thành. Những bài học đó có ý nghĩa như những vấn đề có tính quy luật của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, các tác giả đã đưa ra một số dự báo về sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là những dự báo góp phần quan trọng trong việc định hướng quá trình phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với những thông tin và nội dung trong cuốn sách, đây sẽ là một kênh tri thức góp phần bổ sung, phát triển, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quân đội – một vấn đề có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng trong tình hình hiện nay.

Cuốn sách gồm 5 chương:

Chương I: Tiếp cận khoa học về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam

Chương II: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp

Chương III: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Chương IV: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Chương V: Bài học kinh nghiệm và dự báo sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới

Bài 3. Tổ Chức Quân Đội Và Công An Nhân Dân Việt Nam

TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN NHÂN DÂNVIỆT NAM

Sở GDĐT Quảng Ngãi Trường THPT Sơn Hà Tổ: TD-GDQPGiáo Viên: Nguyễn Võ Trường LinhBÀI GiẢNG MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:Hiểu được chức năng, nhiệm vụ chính của một số tổ chức cơ bản trong Quân đội, Công an.Nhận biết được cấp bậc quân hàm, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu của Quân đội, Công an.Xây dựng ý thức trách nhiệm và tích cực góp phần xây dựng Quân đội, Công an vững mạnh I. QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN ViỆT NAM:1/Tổ chức và hệ thống tổ chức của Q. Đ. N. D. Việt Nam:Tổ chức của Quân đội: Gồm:– Bộ đội chủ lực.– Bộ đội địa phương.– Bộ đội biên phòng.*Lực lượng thường trực và lực lượng dự bị.b. Hệ thống tổ chức: Gồm:– Bộ Quốc phòng.– Các cơ quan Bộ Quốc phòng.– Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.– Các bộ, ban chỉ huy quân sự.I. QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN ViỆT NAM:1/Tổ chức và hệ thống tổ chức của Q. Đ. N. D. Việt Nam:Tổ chức của Quân đội: Gồm:– Bộ đội chủ lực.– Bộ đội địa phương.– Bộ đội biên phòng.*Lực lượng thường trực và lực lượng dự bị.b. Hệ thống tổ chức: Gồm:– Bộ Quốc phòng.– Các cơ quan Bộ Quốc phòng.– Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.– Các bộ, ban chỉ huy quân sự.2. Chức năng, nhiệm vụ chính của một số cơ quan, đơn vị trong Quân đội nhân dân Việt Nama. Bộ Quốc phòng: – Là đơn vị thuộc Chính phủ do Bộ trưởng Bộ quốc phòng đứng đầu.– Chức năng: quản lý, chỉ đạo, chỉ huy.b. Bộ Tổng Tham mưu và cơ quan tham mưu:Bộ Tổng Tham mưu: Tổng Tham mưu trưởng: Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên (từ tháng 8 năm 2006)Là cơ quan chỉ huy lực lượng vũ trang quốc gia.– Chức năng: + Bảo đảm trình độ sẵn sàng chiến đấu. + Điều hành các hoạt động quân sự.– Nhiệm vụ: + Tổ chức nắm chắc tình hình. + Nghiên cứu, đề xuất những chủ trương chung. + Tổ chức lực lượng, chỉ huy quân đội và dân quân tự vệ. + Điều hành các hoạt động quân sự.c. Tổng cục Chính trị và cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam: * Tổng cục Chính trị: Chủ nhiệm Tổng cục: Đại tướng Lê Văn Dũng Chức năng: Đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân.– Nhiệm vụ: + Đề nghị ĐUQSTƯ quyết định chủ trương, biện pháp lớn về công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội. + Đề ra những nội dung, biện pháp, kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra cấp dưới thực hiện.* Cơ quan chính trị các cấp:– Nhiệm vụ: + Nghiên cứu, đề xuất những chủ trương, biện pháp công tác Đảng, công tác chính trị. + Hướng dẫn và tổ chức cho các cơ quan, đơn vị thực hiện. d. Tổng cục Hậu cần và cơ quan hậu cần các cấp:Chủ nhiệm Tổng cục: Thiếu tướng Ngô Huy Hồng – Chức năng: + Đảm bảo vật chất, quân y, vận tải. – Nhiệm vụ: + Nghiên cứu, đề xuất. + Chỉ đạo công tác đảm bảo hậu cần.e. Tổng cục Kỹ thuật và cơ quan kỹ thuật các cấp:Chủ nhiệm Tổng cục:Thiếu tướng Nguyễn Châu Thanh – Chức năng: + Bảo đảm vũ khí, trang bị, kỹ thuật, phương tiện. – Nhiệm vụ: + Nghiên cứu đề xuất. + Bảo đảm kỹ thuật.

g. Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, cơ quan, đơn vị sản xuất quốc phòng: Chủ nhiệm Tổng cục: Trung tướng Trương Quang Khá – Chức năng: + Quản lý các cơ sở sản xuất quốc phòng.– Nhiệm vụ: + Nghiên cứu, đề xuất. + Chỉ đạo các đơn vị sản xuất.– Quân khu: Tổ chức quân sự theo lãnh thổ.– Chức năng, nhiệm vụ: + Chỉ đạo công tác quốc phòng; + Xây dựng tiềm lực quân sự;+ Chỉ đạo lực lượng vũ trang.

h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

– Quân đoàn: Đơn vị tác chiến chiến dịch hoặc chiến dịch – chiến thuật. Là lực lượng thường trực của quân đội.

h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

– Quân chủng: Bộ phận quân đội hoạt động ở môi trường địa lý nhất định như: (trên không, trên bộ, trên biển) h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

– Binh chủng: là một bộ phận của quân chủng, làm chức năng trực tiếp chiến đấu, hoặc bảo đảm chiến đấu có vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương pháp tác chiến và hoạt động đặc thù. Mỗi quân chủng có một số binh chủng đặc thù. Theo truyền thống, một số bộ đội chuyên môn cũng được gọi là binh chủng (BC công binh, BC thông tin liên lạc, v v.).

Bộ đội Biên phòng: – Là bộ phận của Quân đội. – Chức năng: làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia.Chỉ huy hiện tại bộ đội biên phòngTư lệnh: Thiếu tướng Trần Hoa. Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Trần Đình Dũng. Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Phạm Sóng HồngPhó Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Cảnh HiềnPhó Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi

3. Quân hiệu, cấp hiệu và phù hiệu của Quân đội.

II. CÔNG AN NHÂN DÂN:1. Tổ chức và hệ thống tổ chức của Công an nhân dân Việt Nam:a. Tổ chức của công an: Gồm: – Lực lượng an ninh.– Lực lượng cảnh sát.b. Hệ thống tổ chức: – Bộ Công an.– Các cơ quan Bộ Công an.– Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. – Công an huyện, quận, thị xã, thành phố, trực thuộc tỉnh.– Công an xã, phường, thị trấn. – Các học viện, nhà trường đào tạo cán bộ sĩ quan công an và hạ sĩ quan chuyên nghiệp công an.2. Chức năng, nhiệm vụ chính của một số cơ quan, đơn vị trong Công an:Bộ Công an: Bộ trưởng Đại tướng Lê Hồng AnhLà cơ quan lãnh đạo, chỉ huy cao nhất.– Nhiệm vụ: + Quản lý Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,+ Xây dựng nền an ninh nhân dân và các lực lượng công an.b. Tổng cục An ninh: Tổng cục trưởng: Thiếu tướng Phạm Dũng– Là lực lượng nòng cốt của Công an.– Nhiệm vụ:+ Nắm chắc tình hình.+ Đấu tranh phòng, chống tội phạm.+ Làm thất bại mọi âm mưu, hành động xâm phạm an ninh quốc gia.+ Bảo vệ an ninh quốc gia.c. Tổng cục Cảnh sát: Tổng cục trưởng Thiếu tướng Phạm Quý Ngọ– Là lực lượng nòng cốt.– Nhiệm vụ:+ Chủ động đấu tranh phòng, chống tội phạm.+ Làm thất bại mọi âm mưu hành động gây mất trật tự, an toàn xã hội.+ Bảo vệ trật tự an toàn xã hội.d. Tổng cục Xây dựng lực lượng: Tổng cục trưởng Trung tướng Lê Quý Vương– Là cơ quan chuyên trách đảm nhiệm công tác xây dựng hệ thống tổ chức, cán bộ, các lực lượng nghiệp vụ trong Bộ Công an.e. Tổng cục Hậu cần:Tổng cục trưởng: Trung tướng Lê Quốc Sự – Là cơ quan tham mưu, bảo đảm về mặt hậu cần, cơ sở vật chất và khai thác sử dụng vật tư, trang bị cho các lực lượng của Bộ Công an. g. Tổng cục Tình báo:Tổng cục trưởng: Trung tướng Bùi Văn Nam– Là lực lượng đặc biệt, nhằm ngăn chặn và đập tan những âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh quốc gia.h. Tổng cục Kỹ thuật: Quyền Tổng cục trưởng: Trung tướng Cao Ngọc Oánh – Là cơ quan đảm bảo trang bị phương tiện kỹ thuật cho các hoạt động, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào nghiệp vụ công an. i. Bộ Tư lệnh cảnh vệ: Tư lệnh: Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh – Là lực lượng bảo vệ cán bộ cao cấp, cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và các đoàn khách quốc tế, các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế, chuyên gia nước ngoài đến công tác tại Việt Nam. Ngoài ra, còn có các đơn vị như:– Văn phòng.– Thanh tra.– Cục Quản lý trại giam.– Vụ Tài chính.– Vụ pháp chế.– Vụ hợp tác Quốc tế.– Công an xã.3. Cấp hiệu, phù hiệu, quân hiệu của Công an nhân dân Việt Nam: a. Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ:– Hạ sĩ quan có ba bậc.– Sĩ quan cấp uý có bốn bậc.– Sĩ quan cấp tá có bốn bậc.– Sĩ quan cấp tướng có bốn bậc.b. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật– Hạ sĩ quan có ba bậc.– Sĩ quan cấp uý có bốn bậc.– Sĩ quan cấp tá có ba bậc.c. Hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn– Chiến sĩ có hai bậc.– Hạ sĩ quan có ba bậc.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Thực Hiện Chức Năng Đội Quân Công Tác Trong Tình Hình Hiện Nay

Thực hiện chức năng đội quân công tác, toàn quân thường xuyên đẩy mạnh công tác dân vận với nhiều nội dung, hình thức đa dạng và phong phú; chủ động, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Chỉ trong 5 năm (2013 – 2018), Quân đội đã tham gia củng cố hơn 4.000 chi bộ Đảng, 5.300 tổ chức chính quyền, 23.000 tổ chức chính trị – xã hội, xóa tình trạng “trắng” đảng viên ở 107 thôn, bản; phối hợp tổ chức giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho hơn 20 triệu lượt người; đào tạo nghề cho 525 y tá, y sĩ thôn, bản. Các đơn vị đã giúp đỡ nhân dân hơn 2 triệu ngày công lao động xây dựng nông thôn mới, tặng Nhà Tình nghĩa; tổ chức hơn 2.000 đợt khám, chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho hơn 2,5 triệu lượt người với tổng trị giá hơn 300 tỷ đồng. Ngoài ra, Quân đội còn tích cực, chủ động tham gia duy trì, bảo tồn và phát triển bền vững các tộc người, dân tộc rất ít người, như: tộc người thiểu số Đan Lai ở Nghệ An; dân tộc La Hủ ở Lai Châu; dân tộc Chứt ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, v.v. Cùng với đó, các đơn vị còn phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số xóa bỏ hủ tục; tham mưu xây dựng nhiều mô hình phát triển văn hóa, điểm sinh hoạt tín ngưỡng phù hợp với điều kiện địa lý, tình hình kinh tế – xã hội của mỗi dân tộc. Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã cử 332 cán bộ tham gia chính quyền cấp xã; trong đó, 260 người giữ chức vụ trong cấp ủy.

Với quan điểm tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình, những năm qua, Quân đội thực sự là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ này. Trong 5 năm (2013 – 2018), Quân đội đã huy động hơn 1,3 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ và gần 30.000 lượt phương tiện giúp dân phòng, tránh, khắc phục hậu quả thiên tai; cứu hộ, cứu nạn được hơn 10.000 phương tiện và gần 18.000 người dân. Qua đó, thiết thực tăng cường quan hệ máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội lăn lộn trong gian khó, sáng tạo trong tổ chức giải cứu 12 công nhân bị sập hầm ở thủy điện Đạ Dâng (Lâm Đồng); dầm mình trong bão, lũ để di chuyển, cứu tính mạng và tài sản của nhân dân trong những năm qua, có khi còn hy sinh cả tính mạng của mình, đã để lại trong lòng nhân dân nhiều tình cảm tốt đẹp./.