Top 7 # Xạ Hình Chức Năng Thận Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Kỹ Thuật Xạ Hình Chức Năng Thận

Chuyên ngành Y học hạt nhân (Nuclear Medicine) là một chuyên ngành tương đối mới của y học. Trong những năm qua nó đã có những bước tiến bộ vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh nói chung và đặc biệt trong bệnh ung thư.

Nguyên tắc chung của ghi hình y học hạt nhân là: đưa các đồng vị phóng xạ (ĐVPX) hay dược chất phóng xạ (DCPX) vào cơ thể người bệnh để ghi hình (xạ hình) các cơ quan. Các ĐVPX hay các DCPX để ghi hình phải được lựa chọn sao cho khi vào cơ thể nó chỉ tập trung vào cơ quan cần ghi hình, ít hoặc không tập trung phóng xạ ở các tổ chức hay cơ quan khác và phải được lưu giữ ở đó một thời gian đủ dài. Sự phân bố trong không gian của DCPX này sẽ được ghi thành hình ảnh thông qua các thiết bị thu nhận như máy Gamma Camera, SPECT, SPECT/CT, PET và PET/CT. Hình ảnh thu được có tính đặc hiệu của cơ quan cần nghiên cứu. Đây là điểm khác biệt rất quan trọng trong ghi hình bằng kỹ thuật y học hạt nhân so với các kỹ thuật ghi hình không đưa các phóng xạ vào cơ thể người bệnh như CT, MRI… Thực chất xạ hình (Scintigraphy) là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố một cách đặc hiệu của các chất phóng xạ ở bên trong các cơ quan bằng cách đo hoạt độ phóng xạ của chúng từ bên ngoài cơ thể. Xạ hình không chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn thuần về hình thái mà nó còn giúp ta hiểu và đánh giá được chức năng của cơ quan và một số biến đổi bệnh lí khác của chính cơ quan đó.

Tại Trung Tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (YHHN và UB) Bệnh viện Bạch Mai chúng tôi đã áp dụng nhiều kỹ thuật YHHN chẩn đoán cho hàng nghìn bệnh nhân. Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu về kỹ thuật xạ hình chức năng thận.

Xạ hình chức năng thận bao gồm việc chụp hình thận hàng loạt và lập thận đồ đồng vị hiện đang được áp dụng rộng rãi ở các khoa Y học hạt nhân. Với việc trợ giúp của máy móc ghi đo hiện đại có độ chính xác cao và sử dụng các chất đánh dấu phóng xạ cho hình ảnh có chất lượng tốt, xạ hình thận chức năng đã trở thành kỹ thuật không thể thiếu được trong phức hợp thăm dò chức năng thận, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác chẩn đoán các bệnh lý thận và đường tiết niệu.

Dùng các chất mà đường bài xuất duy nhất ra khỏi cơ thể là qua thận, đánh dấu đồng vị phóng xạ rồi tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân. Ghi lại hình ảnh động học và đồ thị hoạt độ phóng xạ – thời gian của từng thận, phân tích định tính và định lượng, qua đó sẽ đánh giá được chức năng của từng thận riêng rẽ.

III. CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH

– Đánh giá chức năng hai thận hoặc từng thận riêng rẽ.

– Đánh giá và theo dõi các bệnh lý ở thận như: tăng huyết áp do thận, viêm đài bể thận, viêm cầu thận, hoại tử ống thận, suy thận cấp…

– Đánh giá và theo dõi tắc đường tiết niệu.

– Nghi thận một bên.

– Đánh giá và theo dõi sau ghép thận.

– Bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế men chuyển (ACE).

– Bệnh nhân đang có thai hoặc cho con bú.

IV. Dược chất phóng xạ và trang bị cần thiết

– Tc-99m – diemethylenetriamine penta-acetic acid (DTPA).

– Tc-99m – mercaptoacetyltriglycine (MAG 3).

Máy SPECT 2 đầu thu Máy SPECT 1 đầu thu

V. QUY TRÌNH THỰC HIỆN + Chuẩn bị bệnh nhân:

– Nhắc bệnh nhân uống nhiều nước (0,5 – 1 lít nước) trong vòng 30 phút – 1 giờ trước khi xạ hình.

– Bệnh nhân cần đi tiểu trước khi ghi đo.

– Tc-99m – DTPA tiêm tĩnh mạch nhanh dạng (bolus).

– Liều dùng cho người lớn: 3 – 15 mCi (111-555 MBq).

– Đo số xung của syringe trước và sau khi tiêm trong thời gian 1 phút cách bề mặt detector 20-30 cm.

– Bệnh nhân nằm ngửa, detector đặt sát lưng phía sau (nếu thận ghép: đặt ở phía trước bụng). Thận và bàng quang nằm trong vùng truờng nhìn của detector.

– Khi nghe tín hiệu bật máy, tiêm nhanh thuốc phóng xạ dưới dạng (bolus) vào tĩnh mạch bệnh nhân.

– Thu nhận thông tin dòng máu đến thận, tiếp sau đó những hình ảnh động học của thận (Pha tưới máu: 6 giây/hình ghi trong 1 phút. Pha động học: 60 giây/hình ghi trong 19 phút). Đặt matrix 128×128.

+ Xử lý hình ảnh: tạo thận đồ (đồ thị hoạt độ phóng xạ – thời gian).

Chọn các hình ảnh thận có số đếm cao nhất để xử lý.

– Hai thận hiện hình ở vị trí giải phẫu bình thường, có cùng kích thước và mật độ tập trung phóng xạ như nhau.

Hình ảnh xạ hình thận bình thường

– Hình ảnh thận đồ: gồm 3 pha

Pha mạch (20-30 giây): đồ thị thận lên nhanh với độ nghiêng gần như thẳng đứng.

Pha tiết (Tmax: 2 – 6 phút): đồ thị tiếp tục đi lên những chậm hơn pha mạch và đạt đỉnh điểm.

Pha bài xuất (T1/2 < 15 phút): đồ thị bắt xuống nhanh trong 3-4 phút đầu, sau đó xuống chậm dần.

– Tính GFR; ERPF; GFR/ERPF.

– Mức lọc cầu thận trung bình (MLCT) đo bằng xạ hình: 125ml/phút

– Mức lọc cầu thận của từng thận

– Mức tập trung phóng xạ của mỗi thận khoảng 4 – 9% tổng hoạt độ phóng xạ tiêm cho bệnh nhân

– Hiện hình 1 trong 2 quả thận.

– Tăng hoặc giảm tập trung phóng xạ ở 1 trong 2 thận.

– Hình ảnh tập trung phóng xạ cao bất thường vùng đài bể thận.

– Các hình ảnh bất thường trên thận đồ.

– Tăng tập trung phóng xạ bất thường ở lách hoặc gan.

1. Bệnh nhân Lê Đức L., nam, 49 tuổi Kết quả: Hai thận có vị trí, hình dáng, kích thước, cấu trúc và chức năng bình thường.

2. Bệnh nhân PHẠM T. B., nữ, 76 tuổi

Kết quả xạ hình chức năng thận: – Thận trái chức năng bình thường

– Thận phải gần như không còn hoạt động chức năng (đồ thị màu xanh đi ngang)

Chẩn đoán: Sau phẫu thuật cắt thận trái

Kết quả: – Thận P có hình dáng, vị trí, kích thước và chức năng bình thường.

VIII. KẾT LUẬN

Xạ hình chức năng thận là 1 kỹ thuật chẩn đoán đơn giản, dễ tiến hành, rất có giá trị trong các bệnh lý của thận, không chỉ cung cấp các thông tin về chức năng riêng rẽ của từng thận qua phân tích định lượng và định tính mà còn cho các thông tin về vị trí, kích thước và giải phẫu của thận. Ngoài ra xét nghiệm này rất có ích trong các trường hợp bệnh nhân mẫn cảm với thuốc cản quang có iốt hoặc urê cao mà không thể chụp X quang được.

PGS.TS Mai Trọng Khoa, BS Nguyễn Xuân Thanh

Xạ Hình Chức Năng Thận Với 99Mtc

XẠ HÌNH CHỨC NĂNG THẬN VỚI 99m Tc – DTPA

I. NGUYÊN LÝ

Diethylenetriamin pentaacetic acid (DTPA) sau khi vào máu qua đường tiêm tĩnh mạch chỉ khoảng 3-5% gắn với protein huyết tương, phần còn lại nhanh chóng được lọc bởi cầu thận và bài xuất qua nước tiểu. DTPA được bài tiết bởi ống thận và không được tái hấp thu.

Dùng DTPA đánh dấu bởi 99m Tc, tiêm tĩnh mạch, ghi hình động, giúp đánh giá hình thể và chức năng riêng rẽ của từng thận.

II. CHỈ ĐỊNH

– Đánh giá tưới máu thận.

– Đánh giá chức năng thận (lọc cầu thận).

– Đánh giá bệnh lý thận tắc nghẽn.

– Đánh giá chức năng quả thận ghép.

III. CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

IV. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện

– Bác sỹ chuyên khoa Y học hạt nhân

– Điều dưỡng Y học hạt nhân

– Cán bộ hóa dược phóng xạ

– Kỹ thuật viên Y học hạt nhân

– Cán bộ an toàn bức xạ

2. Phương tiện, thuốc phóng xạ

– Máy ghi đo: máy Gamma Camera, SPECT, SPECT/CT có trường nhìn rộng,bao định hướngnăng lượng thấp, độ phân giải cao. Máy chuẩn liều bức xạ gamma, máy đo rà bức xạ gamma.

– Thuốc phóng xạ:

Đồng vị phóng xạ: 99mTc với T 1/2 = 6 giờ; mức năng lượng Eγ=140keV.

Hợp chất đánh dấu: DTPA, dạng kít bột đông khô.

Liều: 5-15 mCi (185-555 MBq), tiêm tĩnh mạch nhanh.

3. Dụng cụ, vật tư tiêu hao

– Bơm tiêm 1ml, 3ml, 5ml, 10ml.

– Kim lấy thuốc, kim tiêm.

– Bông, cồn, băng dính.

– Găng tay, khẩu trang, mũ, áo choàng y tế.

– Áo chì, kính chì, cái bọc bơm tiêm bằng chì, liều kế cá nhân.

4. Chuẩn bị người bệnh

– Người bệnh được giải thích về quy trình kỹ thuật sẽ thực hiện để phối hợp.

– Người bệnh không dùng thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển trước khi xét nghiệm.

– Người bệnh uống 200 – 250 ml nước trước khi xạ hình 30 phút.

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1. Tách chiết – Đánh dấu thuốc phóng xạ

– Chiết 99mTc từ bình chiết 99Mo- 99mTc lấy dung dịch 99m Tc-pertechnetat.

– Bơm dung dịch 99m Tc-pertechnetat vào lọ DTPA, lắc tan, ủ trong 30-45 phút ở nhiệt độ phòng.

– Hút liều thuốc phóng xạ 99m Tc-DTPA cho mỗi người bệnh 5-15 mCi trong thể tích <0,5-1ml.

2. Tiêm thuốc phóng xạ và ghi đo

– Tư thế người bệnh: người bệnh ngồi hoặc nằm ngửa. Đặt bộ phận thu nhận của máy áp sát vùng thắt lưng, bảo đảm thu được cả 2 thận và bàng quang.

– Tiêm Bolus tĩnh mạch liều 99m Tc-DTPA đã chuẩn bị

– Ghi hình ngay khi tiêm:

+ Pha 1 tưới máu (Flow): Dynamic 1 giây/hình x 60 hình + Pha 2 lọc-bài xuất (Excrestion): 60 giây/hình x 20-30 hình * Các kỹ thuật khác

1. Xạ hình chức năng thận có tiêm furocemid

– Liều furocemid: 0,3 mg/kg thể trạng.

– Thời điểm tiêm: sau tiêm thuốc phóng xạ 30 phút.

– Mục đích : phân biệt tắc ngẽn bài xuất nước tiểu cơ năng hay thực thể.

2. Xạ hình thận chức năng cho người bệnh ghép thận

– Tư thế người bệnh: nằm ngửa

– Tư thế ghi: mặt trước, hoặc mặt sau.

3. Xạ hình thận chức năng có sử dụng Captopril 25 mg

+ Chỉ định.-người bệnh hẹp động mạch thận, người bệnh cao huyết áp.

+ Chuẩn bị người bệnh: uống Captopril 25 mg (50 mg) 1 giờ trước khi tiêm thuốc phóng xạ làm xạ hình chức năng thận.

*Chú ý:

– Người bệnh không uống các thuốc kháng viêm, thuốc giảm độ lọc cầu thận trước khi xạ hình.

– Nếu kết quả bất thường: làm xạ hình thận chức năng không uống Captopril sau 2 ngày ngưng các thuốc ức chế men chuyển.

VI. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

– Đánh giá kết quả bao gồm đánh giá về hình ảnh chức năng và đồ thị hoạt động chức năng, mức lọc cầu thận.

– Đánh giá từng thận riêng rẽ.

1. Hình ảnh bình thường

– Hai thận hiện hình ở vị trí giải phẫu bình thường, có cùng kích thước và mật độ tập trung phóng xạ gần tương đương như nhau.

– Hình ảnh thận đồ đồng vị gồm 3 pha:

+ Pha mạch (0-3 giây): đồ thị lên nhanh với độ nghiêng gần như thẳng đứng, tương ứng với luồng máu đưa thuốc phóng xạ vào thận.

+ Pha tiết (3-5 phút): đồ thị tiếp tục đi lên nhưng chậm hơn pha mạch và đạt đỉnh điểm (Tmax), tương ứng với sự tích luỹ thuốc phóng xạ trong thận do lọc ở cầu thận và tiết ở ống thận.

+ Pha bài xuất: đồ thị đi xuống nhanh trong 3 – 4 phút đầu, sau đó xuống chậm dần, tương ứng với nước tiểu mang thuốc phóng xạ rời khỏi thận theo niệu quản xuống bàng quang.Hoạt độphóng xạ xuất hiện ở bàng quang sau 3-6 phút.

Để đánh giá thận đồ có thể dựa vào một số chỉ số cơ bản sau:

. T max: Thời gian đồ thị đạt cực đại. Bình thường 3-5 phút

. Ti/ 2: Thời gian từ cực đại đến lúc xuống còn 50%. Bình thường 6-12 phút

. (T max + T 1/2): T 1/2 là một chỉ số có giá trị, phản ánh thời gian tổng cộng qua thận.

. Hoạt động chức năng của nhu mô thận (lọc cầu thận, tiết ống thận) có thể đánh giá qua độ dốc của pha tiết.

. Chỉ số đo mức lọc cầu thận (GFR) của từng thận riêng rẽ. Bình thường GFR= 80-125ml/phút

2. Hình ảnh bệnh lý

– Giảm hoặc khuyết hoạt độ phóng xạ ở một vùng của thận: tổn thương choán chỗ trong thận.

– Hiện hình một trong hai quả thận, 1 thận “câm” do mất chức năng hay 1 thận bẩm sinh.

– Giảm hoạt mức độ tập trung phóng xạ trong 1 hoặc trong cả 2 thận: tổn thương lan tỏa, viêm cầu thận, suy giảm chức năng thận, thường kèm theo hình ảnh phông hoạt độ phóng xạ trong máu cao, kéo dài. Hình ảnh thận ứ nước, niệu quãn dãn…

– Các hình ảnh bất thường trên thận đồ đồng vị:

+ Pha mạch biên độ thấp, hoạt độ phóng xạ vào thận thấp: giảm tưới máu thận, hẹp động mạch thận.

+ Đồ thị pha 2 (pha tiết) bẹt, T max kéo dài: giảm chức năng lọc cầu thận

+ T 1/2 kéo dài, pha bài xuất chậm vì thận tiếp tục tích luỹ hoạt độ do đó đồ thị tiếp tục đi lên (đồ thị dạng tích luỹ): tắc ngẽn bài xuất nước tiểu

+ Pha mạch bình thường, đồ thị thận biên độ thấp, nằm ngang: Thận mất hoạt động chức năng.

VII. THEO DÕI VÀ XỬ TRÍ TAI BIẾN

– Kỹ thuật an toàn, hầu như không có tai biến gì trong và sau chụp hình.

– Tiêm thuốc ra ngoài tĩnh mạch: không thấy hình ảnh động mạch chủ bụng và động mạch thận ở những giây đầu sau tiêm, hoạt độ phóng xạ tập trung vào thận từ từ. Xử trí: phải làm lại xét nghiệm này vào ngày khác.



Tìm Hiểu Về Dịch Vụ Xạ Hình Chức Năng Thận Với ¹³¹I Gắn Oih

– Trivalent Dimecaptosuccinic acid (III-DMSA sau khi tiêm tĩnh mạch 90% gắn với protein huyết tương và tập trung vào tổ chức nhu m phần vỏ thận, chỉ 10% bài tiết qua nước tiểu trong vài gi đầu tiên. – Đánh dấu DMSA bằng Tc99m, tiêm tĩnh mạch, ghi hình sau 30 -60 phút giúp đánh giá vị trí, hình thể, kích thước và cấu trúc bên trong của 2 thận..

I. ĐẠI CƯƠNG

– Trivalent Dimecaptosuccinic acid (III-DMSA sau khi tiêm tĩnh mạch 90% gắn với protein huyết tương và tập trung vào tổ chức nhu m phần vỏ thận, chỉ 10% bài tiết qua nước tiểu trong vài gi đầu tiên. – Đánh dấu DMSA bằng Tc99m, tiêm tĩnh mạch, ghi hình sau 30 -60 phút giúp đánh giá vị trí, hình thể, kích thước và cấu trúc bên trong của 2 thận..

II. CHỈ ĐỊNH

– Đánh giá về vị trí, kích thư ớc, giải phẫu thận, đ ồng th i cũng giúp đánh giá chức năng th ận tương đ ối, đ ặc biệt với thận lạc chỗ. – Nghi chấn thương th ận, u và nang thận, thận ứ nước. II. CHỈ ĐỊNH – Đánh giá v ề vị trí, kích thư ớc, giải phẫu thận – Chấn thương th ận, – U và nang thận, thận ứ nước. – Viêm thận, bể thận. – Thận lạc chỗ – Một phần đánh giá ch ức năng th ận, đặc biệt là thận lạc chỗ thì việc đánh giá tương quan chức năng giữa hai thận tốt hơn là thận chức năng

III.CHỐNG CHỈ ĐỊNH

– Phụ nữ có thai. – Dị ứng với các thành phần của thuốc phóng xạ.

IV. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện – Bác sỹ chuyên khoa Y học hạt nhân – Điều dư ỡng Y học hạt nhân – Nhân viên hóa dư c phóng xạ – Kỹ thuật viên Y học hạt nhân 2. Phương tiện, thuốc phóng xạ , vật tư tiêu hao – Máy ghi đo: Máy Gamma Camera SPECT có trư ng nhìn rộng, Collimator năng lư ng thấp, đa m ục đích, đ ộ phân giải cao. Collimator Pinhole cho hình ảnh phóng đ ại và rõ hơn. – Máy chuẩn liều bức xạ gamma, máy đo rà b ức xạ gamma. 242 – Thuốc phóng xạ: ĐVPX: 99mTc – T1/2 = 6 gi ; mức năng lư ng Eγ=140keV. – H p chất đánh dấu: DMSA Dimecaptosuccinic acid) – Liều dùng: Ngư i lớn 1 – 6 mCi. Tr em 0,05 mCi/Kg cơ thể. Tiêm tĩnh mạch – Bơm tiêm 1ml,3ml,5ml,10ml. – Kim lấy thuốc, kim tiêm. – Bông, cồn, băng dín h. – Găng tay, kh ẩu trang, mũ, áo chì, kính chì y t ế cho các ngư i thực hiện kỹ thuật. 3. Chuẩn bị người bệnh – Ngư i bệnh đư c giải thích về quy trình kỹ thuật sẽ thực hiện để phối h p. – Nếu ngư i bệnh kh ng h p tác thì an thần cho ngư i bệnh bằng thu ốc an thần. – Ngư i bệnh không dùng các thuốc l i tiểu buổi sáng trư ớc khi xét nghiệm. – Ngừng sử dụng thuốc ức chế Enzym Angiotensin II và ức chế thụ thể Angiotensin II trư ớc thực hiện ngiệm pháp 1 ngày. – Ngư i bệnh không dùng thuốc hoặc chế phẩm cản quang trong vòng 48 tiếng trư ớc khi ghi hình. – Ngư i bệnh đi ti ểu hết trư ớc khi ghi hình. 4. Hồ sơ bệnh án Theo quy đ ịnh của Bộ Y tế.

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1. Kiểm tra hồ sơ, bệnh án 2. Kiểm tra ngư ời bệnh 3.Thực hiện kỹ thuật 3.1. Tách chiết – Đánh dấu DCPX – Chiết Tc99m từ bình chiết Mo-Tc lấy dung dịch Tc99m pertechnetate – Bơm dung d ịch Tc99m pertechnetate vào lọ DMSA, lắc đ ều đ ể đư c dung dịch đ ồng nhất, ủ trong 30-45 phút ở nhiệt đ ộ phòng. – Hút liều DCPX Tc99m – DMSA cho mỗi ngư i bệnh. 3.2. Tiêm DCPX Tiêm tĩnh m ạch liều Tc99m – DMSA đã chu ẩn bị cho ngư i bệnh. 243 3.3. Ghi đo Tư th ế ngư i bệnh: nằm ngửa. – Th i gian ghi đo: Ghi sau tiêm 1 -2 phút. – Tư th ế ghi đo: + Collimator lấy đư c toàn bộ hai thận + Xạ hình Plannar tĩnh các tư th ế: thẳng sau (Post), nghiêng phải 90 (RL),nghiêng trái 90 (LL), thẳng trư ớc (Ant) (nếu cần), chếch sau phải, chếch sau trái, chếch trư ớc phải, chếch trư ớc trái 450. Tổng số Kounts/hình: ngư i lớn 500,000 – 1000,000 counts, tr em 300,000 – 500,000 counts. V. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 1.Hình ảnh bình thường – Vị trí: Bình thư ng hai thận nằm ở hố thận, thận phải thấp hơn th ận trái – Hoạt đ ộ phóng xạ HĐPX t ập trung đ ồng đ ều ở cả hai thận. B thận nhẵn, đ ều. Kích thư ớc thận bình thư ng. Thận phải thư ng thấp hơn th ận trái. – Tuy nhiên, những hình thái dư ới đây v ẫn đư c coi là bình thư ng + Hình khuyết HĐPX ở

Chẩn Đoán Bệnh Thận Tiết Niệu Bằng Đồng Vị Phóng Xạ

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV 103

1. CÁC DƯỢC CHẤT PHÓNG XẠ DÙNG TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH THẬN

Sử dụng phương pháp phóng xạ có thể cung cấp nhiều thông tin về chức năng thận và hình thái thận. Các thông tin này có thể là chức năng tổng thể cả hai thận, nhưng quan trọng hơn, phương pháp đồng vị phóng xạ cho phép đánh giá chức năng từng bên thận. Phương pháp này cũng cung cấp hình ảnh hai thận và đường tiết niệu, tuy nhiên không rõ nét bằng chụp UIV. Trong một số trường hợp, các thông tin này là tiêu chuẩn quyết định trong chẩn đoán lâm sàng.

Để thu được kết quả tốt nhất, cần lựa chọn kỹ thuật thích hợp, và cần có những hiểu biết về những hạn chế và các nguyên nhân có thể xảy ra lỗi. Để tìm hiểu về cấu trúc, cần phối hợp với phân tích các kết quả của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác. Các chất phóng xạ thường được sử dụng trong chẩn đoán đồng vị phóng xạ bao gồm:

1.1. Tc-99m-DTPA (Technisium 99m-Diethylene Triamine Penta Acetate)

Tc-99m là một nguyên tố phóng xạ có nguyên tử xếp ở vị trí 43, thuộc nhóm VII, trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học của Mendeleev.

DTPA (Diethylene Triamine Penta Acetate) là một hợp chất hữu cơ, được sản xuất thành dạng bột đông khô chứa trong lọ (kít). Khi trộn DTPA với Tc-99m, DTPA liên kết chelate với Tc-99m để tạo thành một dược chất phóng xạ.

DTPA được đào thải khỏi cơ thể chỉ bằng con đường duy nhất là lọc qua cầu thận, không bị ống thận tái hấp thu hoặc bài tiết, vì vậy là một chất lý tưởng để đo mức lọc cầu thận. DTPA được gắn với Tc-99m để trở thành một dược chất phóng xạ, ghi hình chức năng thận với Tc-99m-DTPA có thể tiến hành trên máy gamma camera. Hiện nay thường sử dụng máy SPECT (Single Photon Emission Computed Tomography) có phần mềm cài đặt sẵn, cho phép hiển thị hình ảnh động của thận và đường tiết niệu, hình ảnh thận đồ đồng vị phóng xạ cùng với các thông số chức năng của từng thận và cả hai thận. Tc-99m-DTPA hiện nay được sử dụng rộng rãi trong thăm dò mức lọc cầu thận, đặc biệt cho phép đánh giá mức lọc cầu thận của từng bên thận.

Hippurate không bị giữ trong gan và các mô trong cơ thể, được thải trừ hoàn toàn qua thận bằng con đường bài tiết của tế bào ống thận. Hippurat được gắn với iod phóng xạ 131 là dược chất phóng xạ kinh điển dùng trong thăm dò dòng huyết tương hiệu dụng qua thận. Tuy nhiên, 131 I-OIH hiện nay ít được dùng vì phải dùng bao định hướng (collimator) năng lượng cao và liều dùng không được quá 100 mCi vì năng lượng tia gamma lớn, hình ảnh ghi được không cho chất lượng cao.

123I-OIH cho hình ảnh thận tốt hơn 131I-OIH, có nửa đời sống 13 giờ, nhưng chất này thường không có sẵn và giá thành cao. Ưu điểm là cho chất lượng hình ảnh tốt, ngay cả khi thận đã giảm chức năng. Liều dùng 2,5 mCi 123 I-OIH cho hình ảnh tương tự liều 10 mCi Tc-99m-DTPA.

1.4. Tc-99m-MAG3 (Tc-99m-Mercapto Acetyl Triglycine)

MAG3 (Mercapto Acetyl Triglycine) được hấp thu rất nhanh vào hồng cầu, được đào thải hoàn toàn qua thận bằng con đường bài tiết của ống thận. MAG3 được gắn với Tc-99m, được dùng để thay thế cho Hippurat có ưu điểm là cho hình ảnh chất lượng cao, nên hiện nay được dùng phổ biến để thăm dò chức năng ống thận và dòng huyết tương hiệu dụng qua thận. Tc-99m-MAG3 có nửa đời sống trong máu tương tự 131I-OIH. Liều 2,5 mCi cho hình ảnh tốt hơn 10 mCi Tc-99m-DTPA và cho hình ảnh tương tự 2 mCi 123 I-OIH.

1.5. Tc-99m-DMSA (Tc-99m-Dimercaptosuccinate)

Tc-99m-DMSA cho hình ảnh tốt hơn Tc-99m-MAG3, liều sử dụng 2,7 mCi tiêm tĩnh mạch.

2. CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ THẬN

2.1. Chụp xạ hình thận nhấp nháy

+ Chuẩn bị bệnh nhân: tạo lợi tiểu nhẹ bằng cách cho bệnh nhân uống nước chè trước khi xét nghiệm, khoảng 10 ml/kg cân nặng. Thông đái để làm sạch nước tiểu trong bàng quang trước khi xét nghiệm.

+ Kỹ thuật: bệnh nhân ở tư thế ngồi hoặc nằm sấp, camera thu hình bóng thận đặt ở vùng thắt lưng hướng về hai thận. Chất đồng vị phóng xạ được tiêm tĩnh mạch (ví dụ: 50 mCi 131 I-OIH). Các ảnh chụp nhấp nháy được thực hiện theo một chương trình đã được đặt trước, thông thường ghi tại các thời điểm 15-30 giây, 30-35 giây, 50 giây, 1-3 phút, 4-6 phút, 6-10 phút, 14-16 phút sau tiêm. Các sóng tín hiệu được ghi và in vào băng từ dưới dạng đường biểu diễn thời gian hoạt tính phóng xạ.

+ Nhận định kết quả: ảnh chụp nhấp nháy cho hình ảnh hai thận, có thể phát hiện được các bất thường cấu trúc thận. Khả năng thải trừ của thận được ghi lại dưới dạng đường biểu diễn thời gian hoạt tính phóng xạ. Đường cong biểu diễn thời gian hoạt tính phóng xạ chức năng thận cho phép phân biệt sự khác nhau giữa hai thận. Đo mức hoạt tính phóng xạ ở các vị trí nhu mô thận, động mạch thận, động mạch chủ. Thang thể hiện hoạt tính máu được chọn vào lúc đường cong biểu diễn này giao với đường biểu diễn hoạt tính thận tại thời điểm 0,75 phút. Diện tích của hình giữa hai đường biểu diễn trên được xác định giữa T1 và T2 = 2 phút. So sánh diện tích đo được giữa hai bên thận, sự khác biệt giữa hai bên thận được xác định trong cùng một lần thăm dò.

0 1 2 3 4 5 6 7

Hình 5.12. Sơ đồ biểu diễn thời gian hoạt tính phóng xạ thận

Hình 5.13. xạ hình thận

2.2. Chụp xạ hình chức năng thận bằng Tc-99m-DTPA

+ Chuẩn bị bệnh nhân: giống như chụp xạ hình thận nhấp nháy.

+ Kỹ thuật: tiêm tĩnh mạch nhanh 10-15 mCi Tc-99m-DTPA, sau đó cách mỗi 5 giây chụp một ảnh bằng camera thu hình đặt phía sau lưng hướng về hai thận. Các đường cong biểu diễn chức năng hai thận và những vùng khu trú cần thiết được tính toán và so sánh giữa hai thận.

+ Nhận định kết quả:

– Ảnh xạ hình nhấp nháy: cho biết hình ảnh hai thận, đường tiết niệu, và những vùng biến đổi cấu trúc bằng sự phân bố hoạt tính phóng xạ khác nhau.

– Xạ đồ chức năng: cho phép đánh giá chức năng dòng máu thận (pha động mạch), chức năng bài tiết của thận (thì nhu mô hay pha bài tiết), chức năng bài xuất (pha bài xuất) của từng bên thận, và tính toán được mức lọc của từng bên thận.

Hình 5.14. Sơ đồ của xạ đồ thận bình thường với Tc-99m-DTPA

A. Pha động mạch: đồ thị pha động mạch đi lên nhanh cho tới khi đường biểu diễn chuyển hướng. Pha động mạch biểu diễn dược chất phóng xạ được dòng máu động mạch đưa tới thận, nó phản ánh khả năng tưới máu thận.

B. Pha bài tiết: đồ thị pha bài tiết nối tiếp từ pha động mạch đi lên chậm tới điểm cực đại của đồ thị. Pha bài tiết biểu diễn dược chất phóng xạ được lọc ở cầu thận và bài tiết ở ống thận, nó phản ánh khả năng lọc của cầu thận và bài tiết của ống thận. Vì Tc-99m-DTPA chỉ được cầu thận lọc, ống thận không bài tiết và không tái hấp thu, vì vậy pha bài tiết trong kỹ thuật xét nghiệm Tc-99m-DTPA chỉ phản ánh khả năng lọc của cầu thận.

C. Pha bài xuất : đồ thị của pha bài xuất bắt đầu từ điểm cực đại đi xuống chậm. Pha bài xuất biểu diễn dược chất phóng xạ đi vào đài bể thận, niệu quản và được bài xuất theo nước tiểu, nó phản ánh lưu thông của đường tiết niệu.

Tmax : là thời gian để hoạt độ phóng xạ đạt tới đỉnh của đồ thị chức năng thận, được tính từ khi tiêm hoạt tính phóng xạ tới điểm cực đại của đồ thị, bình thường dưới 6 phút. Tmax là thông số đánh giá chức năng lọc của cầu thận và bài tiết của ống thận. Với Tc-99m-DTPA chỉ được cầu thận lọc mà không được ống thận bài tiết, vì vậy Tmax là thông số đánh giá khả năng lọc của cầu thận ở từng thận. Tmax không xác định, là không quan sát thấy Tmax sau 31 phút ghi hình.

T1/2: là thời gian để hoạt độ phóng xạ giảm còn 1/2 của Tmax, được tính từ khi tiêm dược chất phóng xạ đến khi giá trị trên đồ thị giảm còn 1/2 Tmax. T1/2 là thông số đánh giá khả năng bài xuất nước tiểu của từng thận. T1/2 không xác định, có thể gặp ở cả ba dạng biểu đồ: biểu đồ đi ngang, biểu đồ tích luỹ, biểu đồ tắc nghẽn không hoàn toàn.

2.3. Chụp bàng quang bằng đồng vị phóng xạ

+ Chuẩn bị bệnh nhân: trước khi tiến hành xét nghiệm, đặt một ống thông vào bàng quang, tháo hết nước tiểu trong bàng quang.

+ Kỹ thuật tiến hành: camera thu hình nhấp nháy đặt khu trú vào vùng bàng quang. Bơm vào bàng quang qua ống thông 1 mCi Tc-99m-DTPA, rồi bơm đầy bàng quang bằng dung dịch natri clorua 0,9%. Xác định bàng quang đầy khi trên máy thu hình xuất hiện hoạt tính phóng xạ ở một niệu quản. Nếu muốn thăm dò hiện tượng trào ngược bàng quang niệu quản, cho bệnh nhân đi tiểu và ghi hình. Phương pháp này có độ nhạy cao hơn phương pháp chụp X-quang bàng quang lúc đi tiểu có bơm thuốc cản quang.

+ Đọc kết quả: hình ảnh chụp xạ hình bàng quang cho phép đánh giá hình thể bàng quang, hiện tượng trào ngược bàng quang niệu quản.

3.1. Hình ảnh chụp xạ hình nhấp nháy

+ Hình pha trộn phóng xạ đồng nhất: với chụp xạ hình thận nhấp nháy, tất cả các cấu trúc lạ có đường kính dưới 2,5 cm không phát hiện được do sự phân tích yếu của hình ảnh. Có thể phân biệt được các hình giả u với u thực sự khi đường kính của khối bất thường trên 2,5 cm. Trường hợp suy thận thấy xuất hiện ứ đọng lan toả các chất phóng xạ trong cơ thể.

+ Thay đổi về hình dạng thận: chụp nhấp nháy cho phép phát hiện thiểu sản thận, thận teo, thận đôi, thận hình móng ngựa, thận to (do u, do nang thận), những ổ “lạnh” hoặc “nóng” phóng xạ, nhưng hình ảnh thường không rõ nét bằng chụp UIV.

+ Ổ tổn thương “lạnh”, “nóng” phóng xạ: ổ “lạnh” phóng xạ là ổ không ngấm hoặc ngấm kém phóng xạ, như các vùng sẹo, u, nang của thận, có thể phát hiện được bằng hình ảnh nhấp nháy. Trong trường hợp các khối u giàu mạch máu sẽ gây ổ “nóng” phóng xạ do hấp thu nhiều dược chất phóng xạ. Trong trường hợp ứ đọng nước tiểu cũng gây ổ “nóng” phóng xạ.

3.2. Xạ đồ chức năng thận bệnh lý

Dựa trên biểu đồ sinh học ghi được, có thể phát hiện những bất thường chức năng và những bất thường tuần hoàn của thận. Các bất thường hình thể không thể hiện trên đường ghi, nhưng thể hiện trên hình ảnh nhấp nháy.

3.2.1. Dạng biểu đồ đi ngang

Chỉ thấy đường ghi hoạt tính của mạch máu (pha động mạch), sau đó biểu đồ đi ngang mà không thấy hình ảnh của đường bài tiết và bài xuất. Dạng biểu đồ này gặp trong trường hợp đã cắt bỏ thận, thận teo do thiểu sản, không có thận hoặc thận mất hoàn toàn chức năng.

3.2.2. Dạng biểu đồ tích luỹ (tắc nghẽn hoàn toàn)

Sau đường ghi hoạt tính của mạch máu (pha động mạch), biểu đồ tiếp tục đi lên chậm mà không đi xuống trong suốt thời gian ghi hình, do dược chất phóng xạ bị tích luỹ trong thận, vì ứ đọng nước tiểu hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn do tắc nghẽn đường tiết niệu, không thấy đường bài tiết và bài xuất. Dạng biểu đồ này gặp ở một bên thận khi có tắc nghẽn hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn đường tiết niệu do sỏi, do u, gặp ở cả hai bên thận thường do tắc nghẽn ở niệu đạo do u tiền liệt tuyến.

3.2.3. Dạng biểu đồ tắc nghẽn không hoàn toàn

Sau đường ghi hoạt tính mạch máu (pha động mạch), biểu đồ đi lên chậm (pha bài tiết chậm), rồi đi xuống chậm (bài xuất chậm do tắc nghẽn không hoàn toàn) đường bài xuất có thể giao động (kiểu giả co thắt). Dạng biểu đồ này gặp trong tắc nghẽn không hoàn toàn đường tiết niệu

Biểu đồ đi ngang Biểu đồ tích luỹ Biểu đồ tắc nghẽn

không hoàn toàn

Hình 5.15. Các dạng biểu đồ xạ hình chức năng thận bệnh lý

Xạ đồ thận phải có dạng đi ngang

ở một bệnh nhân bị mất chức năng thận phải hoàn toàn

Thận đồ bên phải có dạng tắc nghẽn

không hoàn toàn

Hình 5.16. Hình ảnh xạ đồ thận

3.2.4. Xạ hình thận bằng Tc-99m-DTPA với Furosemid

Nhiều trường hợp giãn đường tiết niệu nhưng không có tắc nghẽn, xạ đồ thận có thể thấy biểu đồ dạng tích lũy do hiện tượng lắng đọng dược chất phóng xạ. Trong trường hợp này xạ hình thận với thuốc lợi tiểu furosemid rất hữu ích để phân biệt có tắc nghẽn hay không.

F+20: tiêm furosemid sau khi tiêm dược chất phóng xạ 20 phút là phương pháp truyền thống được Hội tiết niệu Mỹ khuyến cáo.

F+15: tiêm furosemid sau khi tiêm dược chất phóng xạ 15 phút.

F-0: tiêm furosemid đồng thời với tiêm dược chất phóng xạ.

F-15: tiêm furosemid trước khi tiêm dược chất phóng xạ 15 phút.

Hiệu quả tối đa của thuốc lợi tiểu đạt được sau khi tiêm 15 phút nên việc ghi hình phải kéo dài hơn 15 phút, thông thường 20-25 phút. Nghiệm pháp lợi tiểu dựa trên cơ sở tạo ra dòng nước tiểu lớn có tác dụng rửa trôi (wash out) dược chất phóng xạ do hiệu ứng “bể chứa” làm đồ thị đi xuống nhanh nếu không có tắc nghẽn. Trong trường hợp có tắc nghẽn thực sự, bài xuất ít thay đổi do đó đồ thị thay đổi đi xuống không có ‎ nghĩa.

Để phân biệt có tắc nghẽn hay không tắc nghẽn khi làm nghiệm pháp lợi tiểu người ta căn cứ vào T1/2 (sau tiêm lợi tiểu).

T1/2 từ 10-20 phút: kết quả không rõ ràng có thể chức năng thận bình thường hoặc gần bình thường, có thể do thiếu nước làm lượng nước tiểu ít, có thể do loại dược chất phóng xạ được sử dụng, có thể do bàng quang căng quá mức làm chậm bài xuất, chức năng thận quá kém, các trường hợp trên gây đáp ứng với thuốc lợi tiểu không rõ ràng. Nếu chức năng thận chỉ còn đóng góp <20% chức năng chung của hai thận thì không chẩn đoán được có tắc nghẽn hay không bằng nghiệm pháp lợi tiểu.

T1/2 <10 phút: không có tắc nghẽn.

Tắc nghẽn

Hình 5.17. Xạ đồ thận với furosemid

3.3. Các thông số đánh giá chức năng thận

+ Tỉ lệ đóng góp chức năng của từng thận:

– Chức năng thận phải (%) = (số xung của thận phải/tổng số xung của hai thận)´100.

– Chức năng thận trái (%) = (số xung của thận trái/tổng số xung của hai thận)´100

Bình thường mỗi thận đóng góp 50% chức năng.

+ Độ sâu của từng thận (tính từ điểm giữa mỗi thận đến bề mặt da phía lưng bệnh nhân) tính theo công thức của Tonnesen:

– Độ sâu thận trái (cm) = (13,2 ´ cân nặng/chiều cao) + 0,7

– Độ sâu thận phải (cm) = (13,3 ´ cân nặng/chiều cao) + 0,7

+ Độ tập trung phóng xạ từng thận (ĐTT)

Số xung trước tiêm và số xung sau tiêm đo ở bơm tiêm thuốc phóng xạ Tc-99m-DTPA. Bình thường độ tập trung phóng xạ của mỗi thận là 4-9% (Shackett P. 2000)

+ Mức lọc cầu thận (GFR) của từng bên thận và cả hai thận (ml/ph):

GFR tổng = 9,8127´Độ tập trung của hai thận – 6,82519

GFR thận phải = GFR tổng ´ (số xung của thận phải/số xung của hai thận)

GFR thận trái = GFR tổng ´ (số xung của thận trái/số xung của hai thận)

GFR hiệu chỉnh (GFRn), hiệu chỉnh theo diện tích da của cơ thể (ml/ph/m 2):

GFRn = GFR tổng ´ 1,73/S

1,73 là diện tích da trung bình của người Châu Âu tính bằng m 2 (chưa có số liệu của người Việt Nam); S là diện tích da của bệnh nhân tính băng m 2 theo công thức sau:

W là trọng lượng cơ thể bệnh nhân (kg); H là chiều cao của bệnh nhân (cm). Bình thường mức lọc cầu thận tổng cả hai thận là 125 ml/ph.

Nguồn: Hà Hoàng Kiệm (2010). Thận học lâm sàng. NXB YH. Tr. 225-231.

CHIA SẺ BÀI VIẾT