Xây Dựng Con Người Việt Nam Toàn Diện: Những Thách Thức Và Giải Pháp Khắc Phục

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Đột Phá Để Xây Dựng Con Người Việt Nam
  • Các Giải Pháp Xây Dựng Con Người Việt Nam Trong Quá Trình Cnh
  • Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hoá, Con Người Việt Nam Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • Công Ty & Tin Tuyển Dụng Từ Chi Nhánh Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Siêu Việt
  • Luật Sư Tư Vấn Uy Tín
  • Thứ năm, 04 Tháng 8 2021 15:03

    (LLCT) – Đại hội XII của Đảng đã nhận diện những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam để có phương hướng phát triển là yêu cầu cấp thiết trong việc tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Xây dựng, phát triển và hoàn thiện các chuẩn mực giá trị con người Việt Nam với những phẩm chất: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo là một trong những nhiệm vụ, chiến lược trọng tâm, lâu dài.

    1. Về vai trò, vị trí của con người trong chiến lược phát triển

    Ý thức được vai trò, vị trí của nguồn lực con người trong phát triển đất nước, trong nghững năm qua, Đảng, Nhà nước ta những năm qua đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về công tác giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; xác định giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”; đầu tư cho giáo dục luôn được ưu tiên, chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước.

    Sau Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (1996) về Định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000,Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (2013), Đảng đã ban hành Nghị quyết về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của giáo dục, đào tạo trong việc xây dựng con người mới, con người XHCN, có phẩm chất, trình độ, năng lực để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập.

    Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định những thành tựu trong giáo dục, đào tạo, đặc biệt là trong việc nâng cao tỷ lệ lao động đã qua đào tạo: “Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 51,6% vào năm 2021. Dạy nghề cho lao động nông thôn được quan tâm (trong giai đoạn 2010 – 2021, đã có trên 4,1 triệu lao động nông thôn được đào tạo nghề theo Đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn)”(1). Nhờ đó, “Chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) của Việt Nam liên tục tăng trong 24 năm qua. Năm 2014, Việt Nam được xếp thứ 116 trong số 188 nước; tức là ở thứ hạng trên của nhóm các nước có mức phát triển con người trung bình”(2). Điều này cho thấy những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong việc dành nhiều chính sách ưu tiên nhằm phát triển toàn diện con người, bảo đảm những điều kiện cần thiết để mỗi người có cơ hội thuận lợi trong tiếp cận các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội và những vấn đề thiết yếu bảo đảm tốt nhất giá trị quyền con người.

    Đánh giá về những thành công trong công cuộc xây dựng, phát triển con người 30 năm đổi mới và 5 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (2011-2015), Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế có bước chuyển biến quan trọng: Gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người; bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên”(3). Đây là những đánh giá mang tính khái quát về tình hình phát triển con người Việt Nam trong những năm đổi mới, cho thấy những tiến bộ trong công tác chăm lo, phát triển con người. Việc hình thành thế hệ con người Việt Nam có nhân cách, trí tuệ là nền tảng quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng.

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ CNH, HĐH là phát triển văn hóa phải hướng đến mục tiêu phát triển con người, làm cho con người trở nên hoàn thiện về nhân cách, tâm hồn. Con người là trung tâm của mọi chiến lược phát triển, như Văn kiện Đại hội XII đã khẳng định: “Chủ trương của Đảng gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển, xây dựng con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho nhiều chương trình, kế hoạch phát triển”(4). Việc coi trọng phát triển văn hóa, xây dựng nhân cách con người là nhiệm vụ trọng tâm, vấn đề căn cốt tạo thế và lực vững chắc để Việt Nam sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

    2. Những thách thức trong xây dựng, phát triển con người

    Hội nhập, giao lưu quốc tế một mặt mang lại điều kiện, cơ hội thuận lợi cho sự phát triển, nhưng cũng khiến con người Việt Nam phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Đó là:

    Thứ nhất, sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả những cán bộ giữ vị trí cấp cao trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đến thanh thiếu niên và người dân lao động. Tệ nạn tham nhũng, chạy chức chạy quyền diễn biến phức tạp, ngày càng tinh vi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và sự trong sạch, nghiêm minh của bộ máy công quyền. Đây là một trong những nguy cơ mà trong nhiều văn kiện, chỉ thị, nghị quyết Đảng ta đã đề cập, cảnh báo.

    Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, “Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2014 của Việt Nam đạt 31/100 điểm, đứng thứ 119 trên bảng xếp hạng toàn cầu (175 quốc gia) và thứ 18 trên tổng số 28 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Một điều đáng chú ý là điểm số CPI của Việt Nam không thay đổi trong 3 năm liên tiếp (2012- 2014) và tham nhũng trong khu vực công vẫn là một vấn đề nghiêm trọng của quốc gia”(5). Những năm gần đây đã khởi tố, điều tra nhiều vụ án tham nhũng làm thất thoát tiền của của Nhà nước.

    Tệ nạn xã hội ở tầng lớp thanh thiếu niên có chiều hướng gia tăng. Theo số liệu của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ Lao động, thương binh và xã hội), “tính đến tháng 7-2014, số người bán dâm ước tính là gần 33 nghìn người. Số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý là 204.377 người tính đến tháng 9-2014. Tỷ lệ người nghiện ma túy không ngừng tăng qua các năm, đặc biệt là các tỉnh thành phía Nam, như Bà Rịa – Vũng Tàu, Đà Nẵng… trong 20 năm từ 1994-2014 đã có 583.900 lượt người được cai nghiện. Trung bình mỗi năm cai nghiện cho 29.000 người, tương đương với 26% số người nghiện có hồ sơ quản lý trung bình hàng năm”(6). Bên cạnh đó, những vụ án giết người hàng loạt xảy ra ở trẻ vị thành niên, thanh niên với mức độ và tính chất đặc biệt nghiêm trọng, điển hình như vụ Lê Văn Luyện (Bắc Giang), Nguyễn Hải Dương (Bình Dương)… đã dấy lên hồi chuông cảnh báo về sự “tha hóa nhân cách” con người.

    Đây là một hiện tượng nhức nhối trong xã hội, có nhiều nguyên nhân: sự buông lỏng quản lý, giáo dục của gia đình, xã hội; sự thực thi pháp luật thiếu nghiêm minh; sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân,…

    Thứ hai, sự đứt gãy hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa giữa các thế hệ. Đây là một hạn chế trong công tác chăm lo, phát triển con người mà Đại hội XII cho rằng một trong những nguyên nhân là “tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ”, “Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích, chưa làm tốt chức năng định hướng dư luận và xây dựng con người”(7).

    Trong thời kỳ bùng nổ công nghệ thông tin, sự phát triển nhanh như vũ bão của internet, mạng xã hội; báo điện tử; kênh truyền hình giải trí… mang lại những thông tin bổ ích, tạo điều kiện cho con người tiếp cận thông tin thuận tiện dễ dàng; khả năng chia sẻ, kết nối cao… Bên cạnh đó cũng để lại nhiều hệ lụy như: nạn nghiện game online; sự gia tăng ngôn ngữ tiếng lóng, ngôn từ ký hiệu làm méo mó và mất đi sự trong sáng của tiếng Việt; nhiều bạn trẻ lệ thuộc vào không gian ảo đã đánh mất đi những giá trị thực… khiến mỗi cá nhân là một không gian kép kín thiếu sự gắn kết, chia sẻ giữa các thành viên, thiếu sự quan tâm đến các vấn đề xã hội và làm giảm trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng.

    Hiện tượng sống thử trước hôn nhân; nạn nạo phá thai tuổi vị thành niên, tình trạng ly hôn trong các gia đình trẻ gia tăng. Những rạn nứt trong cung cách ứng xử, lối sống giữa các thế hệ trong cùng một gia đình diễn biến phức tạp, nhiều mâu thuẫn khó có thể điều hòa. Bạo hành gia đình giữa vợ – chồng, cha mẹ – con cái; tranh giành tài sản đất đai… tạo ra những rào cản, xung đột ngầm giữa các thế hệ trong bối cảnh chuyển đổi, tìm kiếm và thiết lập những mô hình gia đình phù hợp.

    Thứ ba, sự trỗi dậy của những thói quen xấu. Đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lậc hậu, từng là thuộc địa của thực dân, đế quốc, con người Việt Nam bên cạnh những đức tính, phẩm chất tốt vẫn còn nhiều thói quen xấu: chủ nghĩa cơ hội, bè phái; hám danh; thiếu ý thức tuân thủ pháp luật; lãng phí; khả năng làm việc tập thể chưa cao… Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở nên Người hơn, nhưng thực tế trong những năm qua, việc tạo dựng môi trường văn hóa chưa được quan tâm đúng mức khiến cho việc giáo dục, hình thành những giá trị nhân cách tốt đẹp trong con người chưa hiệu quả. Con người vẫn phải sống trong những môi trường thiếu lành mạnh, trong sạch, bị những sản phẩm, hiện tượng phi văn hóa cám dỗ. Điều này đã được Văn kiện Đại hội XII thẳng thắn nhìn nhận: “Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục”(8).

    Để tạo dựng hình ảnh Việt Nam với tình hình chính trị ổn định; con người thân thiện, lịch sự, mến khách; có bề dày truyền thống lịch sử – văn hóa lâu đời… thì việc quan tâm chăm lo xây dựng những con người mới – những chủ nhân của đất nước phải được tiến hành đồng bộ với chương trình, mục tiêu cụ thể, lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển bền vững.

    3. Một số định hướng xây dựng, phát triển con người Việt Nam hiện nay

    Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, nhấn mạnh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của chiến lược xây dựng, phát triển con người. Coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những khâu đột phá để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

    Nghị quyết đề ra mục tiêu cụ thể là: “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”(9). Trọng tâm của nhiệm vụ xây dựng văn hóa là vì sự hoàn thiện nhân cách con người, chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

    Để phát huy những điểm mạnh, những nhân tố tích cực, đồng thời hạn chế, khắc phục những yếu kém của con người Việt Nam, trong chỉ thị, Nghị quyết, Đảng đã chỉ ra những phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp căn bản là:

    Thứ nhất, về xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống. Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc. Xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân – thiện – mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập. Mặt khác, cần đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Xây dựng và phát huy lối sống “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội. Mặt khác, cần khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn.

    Thứ hai, chú trọng vấn đề an ninh con người, với những nhiệm vụ cụ thể như: Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam. Đồng thời, phải quan tâm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa lành mạnh trong hệ thống chính trị, trong mỗi địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, khu công nghiệp và mỗi gia đình, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, đạo đức, lối sống. Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng mỗi trường học thật sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người. Xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền và các giai tầng xã hội. Phát huy các giá trị, nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng.

    Thứ ba, bồi dưỡng, giáo dục những giá trị nhân văn cho con người, thông qua việc tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên. Phát huy vai trò của văn học – nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người. Bảo đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của mỗi người dân và của cộng đồng.

    Thứ tư, nâng cao thể lực, sức khỏe, tuổi thọ cho con người, gắn với việc giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Xây dựng phát triển con người là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Bởi “muốn xây dựng CNXH thì trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Vì thế, việc xây dựng, hình thành nên những người Việt Nam có phẩm chất, năng lực, “vừa hồng vừa chuyên” là nhiệm vụ trọng tâm trong các chương trình, kế hoạch của các cấp, các ngành.

    (1), (3), (4), (7), (8) Nguồn: http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/van-kien-dang/van-kien-dai-hoi/khoa-xii/doc-5331201610194346.html

    (2) Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP): Báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2021, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2021, tr. 21

    (5) http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/tong-thanh-tra-chinh-phu-tham-nhung-o-viet-nam-3-nam-qua-on-dinh-20141209131112577.htm

    (6) http://www.baomoi.com/phong-chong-te-nan-xa-hoi-con-gap-nhieu-kho-khan/c/15522381.epi

    (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.12

    TS Nguyễn Huy Phòng

    Viện Văn hóa và phát triển

    Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bình Phước: Giải Pháp Thoát Nghèo Ở Huyện Lộc Ninh
  • Chuẩn Nghèo Tiếp Cận Đa Chiều Và Giải Pháp Thoát Nghèo Ở Quảng Ninh
  • Cần Những Giải Pháp Đột Phá Để Thoát Nghèo Bền Vững
  • Luận Văn Giải Pháp Để Kiểm Soát Lạm Phát Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Chính Sách Tiền Tệ Ở Việt Nam
  • Xác Định Nguồn Gốc Tham Nhũng Để Xây Dựng Giải Pháp Phòng, Chống Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Thực Hiện Đồng Bộ Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phòng Chống Tham Nhũng
  • Phải Coi Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Là Một Trọng Tâm Lớn
  • Thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, nghị quyết và các quyết định phòng, chống tham nhũng, ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng, thành lập Ủy ban Phòng, chống tham nhũng trực thuộc Chính phủ v.v…

    Sở dĩ có tình hình trên là do chưa xác định đầy đủ nguồn gốc phát sinh tham nhũng để đề ra các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn, làm giảm thiểu hành vi tham nhũng, trước khi đấu tranh trực diện với chúng thông qua pháp luật. Hoàn cảnh và môi trường ở Việt Nam hiện nay, ba lĩnh vực sau đây có thể gọi là nguồn gốc cơ bản sản sinh ra các hiện tượng tiêu cực và hành vi tham nhũng:

    Một là, mô hình nhà nước lai tạp giữa pháp quyền (30%) và tập quyền tập trung quan liêu (70%), thực hiện thể chế kiểm tra dọc; lại đưa Ủy ban Phòng, chống tham nhũng về trực thuộc cơ quan hành pháp sẽ không tránh khỏi chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Mô hình này như là bà mẹ sản sinh các tệ nạn tiêu cực và tham nhũng và ngày càng nảy nở tràn lan.

    Giải pháp giải quyết nguồn gốc thứ nhất này là phải làm xuất hiện tư duy mới về nhà nước để định hướng đổi mới, chuyển từ mô hình nhà nước lai tạp tập trung quan liêu nêu trên sang mô hình nhà nước pháp quyền XHCN phù hợp các nguyên lý của khoa học tổ chức, học thuyết Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Chuyển Ủy ban Phòng, chống tham nhũng từ cơ quan hành pháp sang cơ quan lập pháp kiểm tra giám sát sẽ hiệu lực và hiệu quả hơn.

    Hai là, công tác tổ chức cán bộ thời kỳ vận hành nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp chưa đổi mới cơ bản để thích nghi với nền kinh tế thị trường XHCN, đã trở thành tập trung quan liêu, do đó thiếu thông tin và thông tin thiếu chính xác, méo mó là điều kiện bất lợi cho việc đánh giá, tuyển chọn cán bộ không chuẩn xác. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của cán bộ nhất là người đứng đầu tổ chức chưa rõ ràng, do đó nhiều nhiệm kỳ và nhiều thập kỷ qua không ai bị cách chức và từ chức, thể chế bầu cử chưa đổi mới phù hợp với nền dân chủ XHCN v.v… là những khe hở để những kẻ cơ hội luồn lách leo cao, để trục lợi tham nhũng, người hiền tài bị loại ra khỏi hệ thống lãnh đạo, dẫn đến chất lượng công tác tổ chức cán bộ ngày càng sút giảm, hiệu lực và hiệu quả hoạt động đạt thấp, làm sản sinh hiện tượng tiêu cực xã hội, lãng phí và tham nhũng ngày càng tăng.

    Giải pháp xử lý nguồn gốc thứ hai này cần sao cho phù hợp với môi trường và hệ thống các quy luật kinh tế thị trường XHCN, mới làm xuất hiện đội ngũ cán bộ chất lượng cao, điều hành tổ chức hiệu lực và hiệu quả. Để làm được điều đó cần chuyển từ thể chế Đảng quyết định trực tiếp mọi khâu công tác tổ chức, cán bộ và cả hệ thống tổ chức, chuyển sang “thể chế phân cấp”, Trung ương và Bộ Chính trị chỉ quyết định người đứng đầu tổ chức trực thuộc như: Bí thư, chủ tịch tỉnh, thành phố và bộ trưởng v.v… Đồng thời lãnh đạo định hướng thông qua chiến lược về công tác tổ chức cán bộ, đào tạo, tạo nguồn theo chức năng từng vị trí công tác, phân cấp giao quyền cho người đứng đầu tổ chức và cấp ủy cùng cấp trực thuộc trực tiếp tuyển chọn và xử lý theo luật định người dưới quyền, nhân sự mà mình sử dụng và chịu trách nhiệm mọi hành vi của người dưới quyền và nhân sự mà mình sử dụng trước cấp trên và pháp luật. Đổi mới thể chế bầu cử dân chủ bằng hình thức tranh cử tranh tài, để cử tri căn cứ chương trình tranh cử của ứng cử viên mà lựa chọn, sẽ làm xuất hiện người tài đề cử vào các vị trí lãnh đạo, làm hạn chế những phần tử cơ hội luồn lách, leo cao, làm tha hóa Đảng, thể chế bầu cử, tranh cử sẽ làm cho Đảng vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững, theo kịp các nước trên thế giới.

    Ba là, chế độ tiền lương để kéo dài sự vi phạm giá trị sức lao động như hiện nay cũng là tác nhân gây ra tham ô, hối lộ và tham nhũng. Tiền lương hiện nay chỉ bằng xấp xỉ 50% giá trị sức lao động, vô hình trung có nghĩa Nhà nước và chủ các doanh nghiệp còn nợ người lao động 50% giá trị sức lao động, những người thuộc diện nghèo mà không được hưởng chính sách xóa đói, giảm nghèo. Theo các chuyên gia ở các nước phát triển tổng kết thì “Tiền lương là một trong sáu giải pháp phòng chống tham nhũng”. Chế độ tiền lương ở nước ta hiện nay đã tự đánh mất vai trò phòng, chống tham nhũng, mà trở thành một trong những nhân tố dẫn đến hành vi tham nhũng, bởi vì chế độ tiền lương hiện nay không đủ trang trải sinh hoạt gia đình ở mức tối thiểu, buộc không ít người chấp nhận các hành vi tiêu cực… trước sự bức bách của cuộc sống (“để tự cứu mình”), dần dần dẫn đến tha hóa phẩm chất, đạo đức, bán rẻ lương tâm và sự cống hiến của mình, rồi dấn thân vào tệ tham nhũng.

    Giải pháp xử lý nguồn gốc thứ ba là, xác định mức lương tối thiểu sao cho phù hợp giá trị sức lao động (ở thời điểm hiện nay xấp xỉ 2.000.000đ). Từ đó tìm kiếm các nguồn thu ngân sách đáp ứng khoản chi lương phù hợp. Quá trình phát triển kinh tế-xã hội tiếp tục điều chỉnh lương theo biến động giá và tăng lương phù hợp năng suất lao động. Nếu không có bước đổi mới các lĩnh vực nêu trên phù hợp với các tiêu chí khoa học thì Luật Phòng, chống tham nhũng sẽ giảm thiểu hiệu lực, bởi vì Luật không thể tự nó định chế các hành vi tiêu cực và tham nhũng, mà phải thông qua vai trò điều hành của Nhà nước và vai trò của cán bộ công quyền, nhất là người đứng đầu tổ chức. Mặt khác Quốc hội cơ cấu như hiện nay không đủ điều kiện (trình độ và quỹ thời gian) để ban hành luật pháp đạt chuẩn mực để điều hành nền kinh tế thị trường XHCN (nền kinh tế thị trường TBCN hay CNXH đều cần Quốc hội chuyên trách và đại biểu đạt trình độ chuẩn mực) để bảo đảm chất lượng và số lượng các đạo luật, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh phát huy mặt ưu điểm và khắc phục mặt khuyết điểm của nền kinh tế thị trường nhằm phát triển nền kinh tế-xã hội bền vững. Điều hành luật pháp phải thông qua con người cụ thể; việc tuyển chọn, đào tạo nhân sự hiện nay không đủ sức để gạt ra khỏi đội ngũ cán bộ những kẻ thiếu tâm và không đủ tầm (mà thực tế đã kiểm nghiệm, minh chứng qua nhiều vụ việc tiêu cực, nhũng nhiễu, hành dân, tham ô, lãng phí và tham nhũng ngày càng tinh vi khắp các lĩnh vực hoạt động đời sống xã hội). Thiết nghĩ, cần phải có bước đổi mới đột phá các lĩnh vực nêu trên sao cho phù hợp với môi trường và hệ thống các quy luật của nền kinh tế thị trường XHCN, làm giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực, đồng thời tập trung đấu tranh trực diện thông qua pháp luật để có thể xóa bỏ về cơ bản tệ nạn tham nhũng.

    Tiến hành triển khai có hiệu quả các giải pháp nêu trên, chúng ta sẽ thực hiện được bốn không “không muốn tham nhũng, không cần tham những, không dám tham nhũng và không thể tham nhũng” mà các nước đi tiên phong trong việc phòng chống tham nhũng đã tổng kết, là điều kiện làm trong sạch Đảng và làm lành mạnh hóa Nhà nước, đẩy lùi nguy cơ và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

    (Theo T/c Xây dựng Đảng)

    3,627

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Xây Dựng: Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Ninh Thuận: Thực Hiện Các Nhóm Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Lạng Sơn Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Quan Điểm Của Đảng Và Nhà Nước Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Bình Thuận Quyết Liệt Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Và Lãng Phí
  • Bộ Xây Dựng: Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng

    --- Bài mới hơn ---

  • Xác Định Nguồn Gốc Tham Nhũng Để Xây Dựng Giải Pháp Phòng, Chống Hiệu Quả
  • Luận Văn: Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng
  • Thực Hiện Đồng Bộ Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Phòng Chống Tham Nhũng
  • (Xây dựng) – Bộ Xây dựng tích cực triển khai công tác phòng chống tham nhũng (PCTN) theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, với các giải pháp đa dạng và tăng cường thanh tra các lĩnh vực có nhiều dự luận tiêu cực.

    Thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về PCTN, trong quý I/2019, Ban Cán sự đảng và lãnh đạo Bộ Xây dựng đã ban hành Chỉ thị số 09 – CT/BCSĐ ngày 30/01/2019 của Ban Cán sự đảng Bộ Xây dựng về việc thực hiện Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, Đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quyết định số 131/QĐ-BXD ngày 04/3/2019 về việc ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật, phòng chống tham nhũng năm 2021 của Bộ Xây dựng; Báo cáo số 129/BC-BCSĐ ngày 25/3/2019 về công tác PCTN của Ban Cán sự đảng Bộ Xây dựng; Quyết định số 199/QĐ-BXD 26/3/2019 về việc ban hành kế hoạch thực hiện công tác phòng, chống tội phạm năm 2021 của Bộ Xây dựng và Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác phòng, chống tham nhũng năm 2021 của Bộ Xây dựng; Quyết định số 133/QĐ-BCSĐ 16/4/2019 về việc ban hành Kế hoạch của Ban Cán sự đảng Bộ Xây dựng thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 10/01/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

    Trong năm 2021, Bộ Xây dựng tiếp tục tập hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng như: Công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan đơn vị; Hoàn thiện xây dựng và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn về chi tiêu tài chính trong nội bộ cơ quan; Minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; Xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý để PCTN; Thực hiện công tác cán bộ để PCTN và xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng.

    Tăng cường thanh tra các lĩnh vực có nhiều dư luận tiêu cực

    Nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra các lĩnh vực có nhiều dư luận tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; năm 2021 Thanh tra Bộ Xây dựng sẽ tiến hành thanh tra hành chính và PCTN đối với một số đơn vị thuộc Bộ Xây dựng, có nội dung thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chấp hành các quy định của ngành về thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trách nhiệm, thẩm quyền quản lý của Bộ và các đơn vị thuộc Bộ.

    Ngày 14/12/2018, Bộ Xây dựng đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, đẩy mạnh phát hiện, xử lý tình trạng “tham nhũng vặt”, chọn một số vụ việc trong các khâu, lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, dư luận xã hội quan tâm để xử lý nghiêm và công khai.

    Trong năm 2021 và quý I/2019, thực hiện kế hoạch được Bộ trưởng phê duyệt, Thanh tra Bộ Xây dựng đã triển khai hoàn thành 114 đoàn thanh tra, đồng thời thực hiện giám sát theo quy định với các đoàn thanh tra nêu trên; Ban hành 84 kết luận thanh tra, kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với 155 tập thể và 235 cá nhân để xảy ra vi phạm, kiến nghị xử lý về kinh tế tổng số tiền 947,8 tỷ đồng (trong đó: Yêu cầu phê duyệt lại dự toán 706,9 tỷ đồng; Yêu cầu giảm trừ thanh quyết toán 136,3 tỷ đồng; Yêu cầu nộp về tài khoản của chủ đầu tư 15,4 tỷ đồng; Nộp ngân sách Nhà nước địa phương 6,3 tỷ đồng; Yêu cầu thu hồi về tài khoản tạm giữ của Thanh tra Bộ 67,3 tỷ đồng); Xử phạt 178 đơn vị và yêu cầu áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bổ sung số tiền 28,6 tỷ đồng.

    Bộ Xây dựng đã chủ động xây dựng lịch tiếp công dân của Bộ trưởng, có các văn bản chỉ đạo các đơn vị có trách nhiệm xử lý triệt để, thực hiện tiếp công dân thường xuyên theo lịch định kỳ.

    Đối với các vụ việc yêu cầu giám định khác, Bộ Xây dựng tiếp tục chỉ đạo hoàn thành tốt công tác giám định, định giá tài sản theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng đã công bố danh sách các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tham gia công tác giám định tư pháp trong lĩnh vực xây dựng, các cơ quan có thẩm quyền có thể trưng cầu các tổ chức, cá nhân này tham gia công tác giám định để đáp ứng yêu cầu của các cơ quan điều tra, xử lý các vụ việc vi phạm.

    Thanh Nga

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ninh Thuận: Thực Hiện Các Nhóm Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Lạng Sơn Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Phòng Ngừa Tham Nhũng
  • Quan Điểm Của Đảng Và Nhà Nước Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Bình Thuận Quyết Liệt Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Và Lãng Phí
  • Long An Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Và Lãng Phí
  • ★ Sữa Similac Cho Trẻ 1 Tuổi Bị Nhiễm Độc Có Đúng Hay Không ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Liệu Sữa Similac Có Chất Biến Đổi Gen?
  • Cho Trẻ Dưới 1 Tuổi Uống Sữa Abbott Có Bị Táo Bón Không?
  • Tại Sao Khi Bé Uống Sữa Similac Bị Táo Bón?
  • Cho Trẻ Uống Sữa Similac Có Tốt Không?
  • Liệu Sữa Similac 2 Có Gây Táo Bón Không?
  • Tôi xin khẳng định rằng thông tin Abbott – hãng sữa cho trẻ em hàng đầu của Mỹ thu hồi 11 lô sữa Similac Gain ở Việt Nam là có thật, tuy nhiên lí do đằng sau đó thì không phải như các mẹ nghĩ đâu nhé.  Thông tin “sữa similac cho trẻ 1 tuổi bị nhiễm độc” là có nhưng sự thật là gì thì các mẹ hãy tìm hiểu qua bài viết này nhé.

    Thực hư tin tức sữa Similac cho trẻ 1 tuổi bị nhiễm độc

    Về việc tại sao lại thu hồi 11 lô sữa Similac GainPlus của Công ty Abbott, Công ty này cũng đã nhấn mạnh rằng việc thu hồi chỉ là với mục đích phòng ngừa nhằm bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng. Và từ trước đó cũng chưa có ghi nhận nào về sự ảnh hưởng của sản phẩm này đối với người tiêu dùng ở Việt Nam. Nhưng dư luận Việt Nam suốt một thời gian dài vẫn băn khoăn sữa similac cho trẻ 1 tuổi bị nhiễm độc thật không, vì đây là sản phẩm rất được ưa chuộng và phổ biến đối với các mẹ bỉm sữa

    Giải đáp thắc mắc sữa Similac cho trẻ 1 tuổi bị nhiễm độc

    Để gỡ nút thắt này của các bậc làm cha làm mẹ có con em đang sử dụng sản phẩm sữa này, thì Bộ Công Nghiệp Cơ Bản New Zealand đã chính thức minh oan cho sản phẩm này khi công bố sữa Similac Gainplus cho trẻ 1 tuổi hoàn toàn không bị nhiễm độc mà chỉ là hai loại vi khuẩn Clostridium botulinum và Clostridium sporogenes khá giống nhau nên đã có sự nhầm lẫn trong khâu kiểm định. Trước đó, chính bộ này đã yêu cầu Abbott thu hồi sản phẩm sữa này vì nghi ngờ trong sữa này có chứa Clostridium botulinum là một vi khuẩn có tác động xấu đến trẻ. Nhưng sau khi thẩm định kĩ, vi khuẩn có trong sữa này lại là Clostridium sporogenes – một loại vi khuẩn lành tính, không gây nguy hại tới người tiêu dùng.

    Ông Jullian Caillet, Tổng giám đốc, Abbott Việt Nam cho biết “Ưu tiên số một  của Abbott luôn luôn là người tiêu dùng. Trách nhiệm của chúng tôi là cung cấp những sản phẩm chất lượng cao và an toàn. Dựa vào những thông tin chúng tôi nhận được trước đây, chúng tôi đã thể hiện trách nhiệm trong việc nhanh chóng tiến hành thu về các sản phẩm bị nghi ngờ trên thị trường. Chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp thích hợp để người tiêu dùng tin tưởng về sự an toàn của các sản phẩm của Abbott”

    Vậy là các mẹ đã được giải đáp thắc mắc sữa similac cho trẻ một tuổi bị nhiễm độc là có đúng hay không. Các mẹ vẫn cứ là yên tâm khi chọn Similac cho bé nhà mình nhé.

    ~~~

    Liệu sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn không?

    Sữa Similac là một loại sữa nổi tiếng đến từ thương hiệu Abbott của Hoa Kỳ, với dạng bột sữa mềm mịn, thơm hơn so với các loại sữa khác, Similac đã chiếm trọn cảm tình của các mẹ cũng như được rất nhiều trẻ ưa thích. Tuy nhiên trong thị trường sữa thật giả lẫn lộn như hiện nay rất khó để các phụ huynh phân biệt được các loại sữa phù hợp cho trẻ.

    Bên cạnh đó cũng có không ít những trường hợp các cơ sở kém chất lượng làm giả thương hiệu hãng sữa nổi tiếng khiến trong sữa nhiễm khuẩn rồi mang bán ra thị trường. Vì vậy các mẹ hiện nay đang rất hoang mang khi đứng trước sự lựa chọn đến từ các hãng sữa. Để góp một phần nào đó vào sự đảm bảo cho trẻ, bài viết này chúng ta hãy cùng nhau đi xem xem liệu sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn không?

    Tại sao sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn không lại khiến các mẹ lo lắng?

    Câu hỏi sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn không được rất nhiều mẹ đưa ra bởi hiện nay sữa similac là một trong những sản phẩm sữa được tin tưởng và ưa chuộng nhất trên thị trường. Vì vậy khi nghe thông tin sữa bị nhiễm khuẩn có mặt trên thị trường, có cả những hãng sữa lớn khiến phụ huynh cảm thấy lo lắng, phân vân không biết liệu sữa của con mình đang dùng có bị nhiễm khuẩn không. Nên những ai đang dùng sữa similac cho trẻ xin hãy yên tâm vì chất lượng sữa của similac không hề bị nhiễm khuẩn.

    Tại sao lại có sự chắc chắn như vậy? Vì để sản xuất ra một loại sữa phải trải qua nhiều giai đoạn. Không chỉ phụ thuộc vào công thức chất dinh dưỡng trong sữa mà còn phải có kỹ thuật tiên tiến cũng như khâu kiểm duyệt kỹ lưỡng để đảm bảo tính an toàn cho sản phẩm. Với Abbott – tập đoàn sữa lớn đến từ Hoa Kì thì các mẹ hoàn toàn yên tâm với dây chuyền sản xuất chuyên nghiệp, an toàn với các thiết bị hiện đại khử trùng các vi khuẩn, cho bé có một nguồn sữa tốt nhất.

    Kết luận về vấn đề sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn hay không

    Sữa similac số 2 dành cho trẻ từ 6 – 12 tháng tuổi với đầy đủ các dưỡng chất thiết yếu không chỉ đảm bảo cho trẻ có một hệ tiêu hóa tốt, tăng cường hệ miễn dịch mà còn giúp phát triển não bộ, trí thông minh, thị giác; thậm chí trong sữa còn giàu Canxi giúp trẻ xây dựng một hệ xương chắc khỏe,… Với những lợi ích mà sữa mang lại, chắc chắn nhiều bà mẹ sẽ quan tâm tới câu trả lời của vấn đề “ Liệu sữa similac số 2 có bị nhiễm khuẩn hay không?” Một lần nữa khẳng định với các mẹ đó là sữa similac số 2 không hề bị nhiễm khuẩn. Vì vậy phụ huynh hãy cứ thoải mái lựa chọn cho con sử dụng dòng sữa similac nhé!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Mát Người Và Tránh Táo Bón
  • Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Dạng Gói Là Gì?
  • Sữa Similac Cho Trẻ Sơ Sinh 400G Giá Bao Nhiêu Trên Thị Trường Hiện Nay?
  • Ủ Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Là Gì?
  • Top 5 Sữa Cho Trẻ Sơ Sinh Tốt Nhất Trên Thị Trường Hiện Nay
  • Tin tức online tv