Top 2 # Xét Nghiệm Chức Năng Gan Như Thế Nào Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Xét Nghiệm Gan Như Thế Nào?

Xét nghiệm gan như thế nào để có thể đánh giá tình trạng hoạt động bất thường của gan, để có thể kịp thời điều trị và phòng ngừa biến chứng?

Gan là một bộ phận quan trọngtrong cơ thể, gan thực hiện hơn 500 chức năng khác nhau. Khi gan bị tổn thương không chỉ gan bị ảnh hưởng mà các bộ phận khác trong cơ thể cũng chịu thương tổn. Việc luôn theo dõi tình trạng của gan là rất quan trọng và cần thiết. Xét nghiệm chức năng gan là một trong những cách để phát hiện ra các bệnh về gan. Và một trong những phương pháp hiệu quả và hay được sử dụng nhất đó là xét nghiệm máu viêm gan B

Xét nghiệm máu giúp chẩn đoán các bệnh về gan

KIỂM TRA BỆNH GAN, XÉT NGHIỆM GAN LÀ GÌ?

Xét nghiệm gan (LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của gan, kiểm tra bệnh gan xem gan có hoạt động bình thường không, có những dấu hiệu bất thường nào ở trong gan không… Ngoài ra việc xét nghiệm chức năng gan còn giúp các bác sĩ biết được trong gan có chứa mầm bệnh nào không, có virus gây viêm gan không… Nhưng không phải cứ xét nghiệm chức năng gan là có thể phát hiện được những loại bệnh đang tiềm ẩn ở trong gan, mà cần xét nghiệm chuyên sâu hơn, đặc biệt hơn mới có thể phát hiện được những bệnh đang ẩn mình ở trong lá gan của bạn.

Ngoài ra việc xét nghiệm kiểm tra bệnh gan giúp cảnh báo cho bác sĩ biết có điều gì bất ổn ở trong gan, điều bất ổn đó có nghiêm trọng và nguy hiểm không. Khi xét nghiệm tình trạng chức năng của gan, giúp các bác sĩ xác định sự cần thiết để tiến hành thêm các xét nghiệm khác. Vậy xét nghiệm gan như thế nào?

Kết hợp các kết quả xét nghiệm gan thêm cùng với LFTs, các bác sĩ sẽ có cơ sở để chẩn đoán liệu gan bị bệnh gì và có đang hoạt động tốt không. Các bác sĩ ở phòng khám Kim Mã cũng cho biết, bằng việc lưu giữ một loạt kết quả LFTs từ những tháng và năm trước đó, trong một số trường hợp cả bác sĩ và bệnh nhân có thể dự đoán liệu tình trạng gan có ổn định không, có được cải thiện không, có hồi phục hoặc xấu đi không, các biện pháp điều trị có đáp ứng không, có cần sử dụng thử biện pháp khác và liệu đã đến lúc bệnh nhân cần phải cấy phép gan chưa.

Xét nghiệm men gan: Có 4 men gan được đưa vào xét nghiệm thông thường là AST, ALT, photphate kiềm (AP) và GGTP. Nếu có tình trạng tăng men gan thì có thể người bệnh đang mắc các bệnh lý về gan- mật

Men gan cao có thể cảnh báo bạn đang mắc một số bệnh về gan

Bilirubin: Đây là chất do gan sản xuất khi tham gia vào quá trình tái tạo hồng cầu già. Nếu tăng Bilirubin thì có thể thường đi kèm với tình trạng gan kém hoặc tắc mật.

Protein gan

Albumin

Thời gian prothrombin

Globulin miễn dịch

Tiểu cầu

Amoniac

LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC CHỨC NĂNG GAN CÓ HOẠT ĐỘNG BÌNH THƯỜNG HAY KHÔNG?

Nên kiểm tra sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện các bệnh về gan

Xét nghiệm gan như thế nào để biết được chức năng gan có hoạt động bình thường hay không là một câu hỏi mà được rất nhiều người quan tâm. Nhưng theo các bác sĩ ở phòng khám Kim Mã cho biết, muốn biết chức năng gan có hoạt động bình thường hay không cần tới các bệnh viện, phòng khám chuyên về gan để xét nghiệm gan , kiểm tra chức năng gan.

Xét Nghiệm Chức Năng Thận Như Thế Nào Chính Xác?

Thận là cơ quan không thể thiếu của hệ tiết niệu. Suy thận là tình trạng giảm hoạt động của thận, làm cho thận không đảm bảo được các nhiệm vụ của mình, ảnh hưởng đến hoạt động của toàn cơ thể. Chính vì thế, việc xét nghiệm chức năng thận là việc không thể thiếu nhằm đánh giá hoạt động của cơ quan này và có những điều trị bệnh trong trường hợp cần thiết.

ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG THẬN CẦN NHỮNG XÉT NGHIỆM NÀO?

Creatinin, BUN (Blood Urea Nitrogen) là các sản phẩm của quá trình chuyển hóa đạm của cơ thể, được thận thải ra bằng đường nước tiểu. Các trị số bình thường sẽ thay đổi tùy theo từng phòng xét nghiệm. Nhưng trung bình, BUN ở khoảng từ 6đến 24 mg/dL (tương đương với 2,5đến 8 mmol/L), creatinin ở khoảng 0,5đến 1,2mg/dL (tương đương 45 đến 110 mmol/L) là bình thường. Các chỉ số này sẽ tăng lên trong máu khi chức năng thận trở nên xấu đi.

Xét nghiệm sinh hóa chức năng thận

Tình trạng rối loạn chức năng thận sẽ gây ra sự mất cân bằng các chất điện giải trong cơ thể.

Natri trong máu bình thườngdao động từ 135đến 145 mmol/L. Ở những người suy thận, natri máu sẽ giảm, có thể do mất natri qua da, đường tiêu hóa, qua thận nhưng cũng có thể do thừa nước. Các triệu chứng của việc giảm natri ở máu chủ yếuxảy ra ở hệ thần kinh như nhức đầu, buồn nôn, lừ đừ, hôn mê, co giật.

Kali trong máu bình thường đạt từ 3,5đến 4,5 mmol/L. Ở bệnh nhân suy thậnsẽ xảy ra tình trạng tăng Kali trong máu do thận giảm thải kali. Các triệu chứng của tình trạng này từ nhẹ đến nặngbao gồm mệt mỏi, dị cảm, mất phản xạ, liệt cơ, rối loạn nhịp tim.

Canxi máu bình thường nằm trong khoảng 2,2đến 2,6 mmol/L. Suy thận sẽ có biểu hiện giảm canxi máu kèm theo tăng phosphatvớitriệu chứng chủ yếu là dấu kích thích thần kinh cơ gồm tăng phản xạ gân xương, co cứng cơ, co giật, rối loạn nhịp tim.

Trong xét nghiệm chức năng thận, bình thường pH máu được duy trì ở mức 7,37 đến 7,43 cho phép các hoạt động tối ưu của men tế bào, yếu tố đông máu và các protein gây nên co cơ. Kết quả xét nghiệm chức năng thận cho thấy thận bị suy sẽ phát hiện ra việc giảm thải các acid hình thành trong quá trình chuyển hóa của cơ thể hoặc mất bicarbonat gây tình trạng toan chuyển hóa cho cơ thể. Toan hóa máu gây nên triệu chứng loạn nhịp tim, rối loạn hô hấp làm nặng thêm tình trạng tăng kali máu.

Chỉ số Acid Uric máu trung bình ở namlà 5,1 ± 1,0 mg/dL (420 μmol/lít)trong khi đó ở nữlại là 4,0 ± 1mg/dL (360 μmol/lít). Acid uric máu tăng có thể gây tổn thương thận, nhưng cũng có thể là hậu quả do bị suy thận không thải được.Ngoài ra, Acid uric máu tăng cũng có thể gợi ý bệnh nhân có kèm theo sỏi của hệ tiết niệu.

Xét nghiệm chức năng thận bằng việc đánh giá tỷ trọng nước tiểucũng là một phương pháp phổ biến. Tỷ trọng nước tiểu bình thườngnằm trong khoảng 1,01 đến 1,020 trong đó nước tiểu 24h của người lớn ăn uống bình thường có tỷ trọng từ 1,016 đến 1,022. Việc suy giảm chức năng thận giai đoạn sớm sẽ làm giảm độ cô đặc của nước tiểu, dẫn đến tỷ trọng nước tiểu giảm. Trong trường hợp nghi ngờ, bệnh nhân sẽ được làm thêm: so sánh tỷ trọng nước tiểu ngày và đêm, nghiệm pháp pha loãng nước tiểu, nghiệm pháp cô đặc nước tiểu….

Định lượng Protein nước tiểu 24 giờ

Bình thường: Protein trong nước tiểu nằm trong khoảng 0 đến 0,2 g/24h.

Đặc điểm của protein niệu do bệnh cầu thận là dai dẳng và thường lớn hơn 0,3 g/l. Kết quả xét nghiệm chức năng thận này cho thấy protein niệutăngcó thể do một số bệnh gây thương tổn cầu thận, viêm cầu thận cấp do nhiễm độc thuốc hoặc hóa chất độc, suy thận, các bệnh lý có ảnh hưởng đến thận.

Ở người bình thường, albumin huyết thanh khoảng 35 đến 50 g/L, chiếm 50 – 60% protein toàn phần. Albumin giảm mạnh trong trường hợp bệnh nhân mắc bệnh lý cầu thận cấp.

Giá trị bình thườngcủa chỉ số này là 60 đến 80 g/L. Protein toàn phần huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận protein toàn phần sẽ giảm nhiều hơn trong các bệnh thận khi màng lọc cầu thận bị tổn thương.

Tình trạng chức năng thận chỉ có thể đánh giá chính xác bằng cách thực hiện sinh thiết thận, đọc các cấu trúc của các đơn vị thận dưới kính hiển vitrong khi các xét nghiệm chức năng thận hiện nay chỉ có thể đánh giá được tương đối tình trạng của thận, vì thế cần kết hợp nhiều xét nghiệm.

Bác sĩ Hà Nội – Kênh thông tin tổng hợp, chia sẻ kiến thức y khoa hàng đầu Việt Nam, sẵn sàng tư vấn – giải đáp tất cả các vấn đề sức khỏe mà bạn đang gặp phải.

Kết Quả Xét Nghiệm Chức Năng Gan Và Chẩn Đoán Hình Ảnh Có Giá Trị Như Thế Nào?

Kết quả xét nghiệm chức năng gan và chẩn đoán hình ảnh có giá trị như thế nào trong bệnh lý gan?

Xét nghiệm chức năng gan ( LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của gan.. Tuy nhiên ngoài ý nghĩa, lợi ích cũng có hạn chế của xét nghiệm chức năng gan (LFTs). LFTs không thể xác định được những bệnh cụ thể của gan. Để xác định cần có xét nghiệm chuyên sâu và đặc biệt hơn. Ngoài ra, để chẩn đoán bệnh gan cần có kết quả chẩn đoán hình ảnh, như siêu âm gan, chụp cắt lớp và cộng hưởng từ thường dùng để quan sát hình ảnh gan.

1.Men gan

Có 4 men gan khác nhau được đưa vào trong các xét nghiệm thông thường. Đó là aspartate aminotransferase (AST hoặc SGOT) và alanine aminotransferase (ALT hoặc SGPT) được biết đến như transaminase; và phosphate kiềm (AP) và gamma-glutamyl transferase (GGTP), được biết như men gan mật. Khi các men này tăng lên có thể biểu hiện của bệnh gan.

a.AST và ALT (transaminase)

Đôi điều về khoảng tham khảo bình thường Khi kết quả xét nghiệm được đưa cho bác sĩ, họ thường so sánh với giá trị thu được từ một nhóm người khỏe mạnh. Khoảng của giá trị này được gọi là “giá trị bình thường” được gọi là giới hạn tham khảo hoặc khoảng tham khảo. Giá trị cao nhất và thấp nhất của khoảng này thường được gọi là giới hạn bình thường trên và giới hạn bình thường dưới. Khoảng tham khảo này có thể khác nhau chút ít tùy theo từng thời điểm và tùy vào từng phòng xét nghiệm. Bác sĩ sẽ chú ý đến giới hạn này khi đọc từng kết quả xét nghiệm cụ thể.

Viêm gan do virus.

Gan nhiễm mỡ.

Bệnh gan do rượu.

Bệnh gan do thuốc.

Viêm gan tự miễn.

Nhiễm độc thảo mộc.

Bênh gan di truyền.

U gan.

Suy gan.

Luyện tập gắng sức.

b.GGT và AP (Men gan mật)

Mức GGT và AP tăng có thể là biểu hiện của tắc mật hoặc tổn thương, hoặc viêm đường mật. Những bệnh này thường có đặc điểm là giảm hoặc không lưu thông đường mật, được gọi là ứ mật. Loại tổn thương gan kiểu này được gọi là tổn thương gan mật, bệnh gan được gọi là bệnh gan mật (xơ gan mật tiên phát là một ví dụ của bệnh gan mật). Ứ mật trong gan nói đến tình trạng tắc đường mật hoặc tổn thương bên trong gan. Ứ mật trong gan có thể gặp ở người bị xơ gan mật tiên phát hoặc ung thư gan . Ứ mật ngoài gan nói đến tình trạng ứ mật hoặc tổn thương ngoài gan. Ứ mật ngoài gan có thể xảy ra ở bệnh nhân bị sỏi mật. Khi bị viêm hoặc tắc đường mật, GGT và AP có thể bị tràn ra như mở kho dự trữ và đi vào dòng máu. Những men này tăng lên rõ rệt – gấp gần 10 lần giá trị bình thường ở giới hạn trên. GGT được tìm thấy chủ yếu trong gan. AP được tìm thấy chủ yếu trong xương và gan nhưng cũng có thể ở nhiều cơ quan khác như ruột, thận và nhau thai. Vì vậy, mức AP tăng chỉ phản ánh có vấn đề về gan nếu có kèm theo tăng GGT. Nên nhớ rằng GGT có thể tăng và không kèm theo tăng AP, vì GGT dễ bị ảnh hưởng bởi rượu và những thuốc có độc tính với gan. Lưu ý rằng, những người hút thuốc thường có mức AP và GGT cao hơn những người khác với những lý do chưa biết rõ. Tương tự, nồng độ AP và GGT gần như phản ánh chính xác sau khi nhịn đói 12 giờ. Bắt đầu có sự phức tạp khi đánh giá xét nghiệm chức năng gan bất thường! Nồng độ AP bình thường vào khoảng 35-115 IU/l, và nồng độ GGTP bình thường vào khoảng 3-60 IU/L. Một số nguyên nhân sau có thể làm tăng nồng độ AP và GGTP:

Xơ gan mật tiên phát.

Bệnh gan nhiễm mỡ ở người không nghiện rượu.

Viêm đường mật xơ hóa tiên phát

Bệnh gan do rượu

U gan

Bệnh gan do thuốc

Sỏi mật.

Xơ gan mật tiên phát

Viêm đường mật xơ hóa tiên phát

Viêm gan do rượu

Tan máu – Hồng cầu bị vỡ

Bệnh gan do thuốc

Sỏi mật

Suy gan hoặc tình trạng gan kém nói chung

Những khối u có ảnh hưởng đến gan, đường mật hoặc túi mật.

Viêm gan do virus.

Rối loạn chuyển hóa bilirubin lành tính mang tính gia đình, như hội chứng Gibert.

Tăng bilirubin thường đi kèm với tăng AP và GGT. Khi tăng đồng thời bilirubin, AP và GGT có thể bị ứ mật. Tuy nhiên nếu mức bilirubin vẫn bình thường nhưng GGT và AP cao, thì có thể bị ứ mật không vàng da. Những bệnh có đặc điểm bilirubin cao, GGT và AP cao thường là bệnh gan mật.

3.Protein gan

Albumin, prothrobin (yếu tố II) và globulin miễn dịch là những protein được sản xuất chủ yếu bởi gan. Khi có bất thường về mức protein này có thể giúp xác định liệu có bị bệnh gan trầm trọng hay không.

4.Albumin

Mức albumin bình thường trong máu khoảng 4g/dl. Khi gan bị tổn thương nghiêm trọng, nó mất khả năng sản xuất albumin. Những người bị bệnh gan mãn tính đi kèm với tình trạng xơ gan thường có mức albumin dưới 3 g/dl. Mức albumin thấp nói chung chỉ tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng kém và không chỉ có riêng ở bệnh gan.

Đôi điều về hội chứng Gilbert Đôi điều về hội chứng Gilbert là một rối loạn chuyển hóa bilirubin di truyền, rất phổ biến và lành tính. Nó xuất hiện ở khoảng 4-9% dân số. Chúng có đặc điểm là tăng mức bilirubin không liên tục. Hội chứng này thường được phát hiện khi xét nghiệm máu thường xuyên, khi xét nghiệm này được tiến hành để đánh giá những bệnh khác, hoặc trước khi tuyển dụng hoặc trước khi tham gia bảo hiểm. Mức bilirubin thường tăng tới 3 mg/dl nhưng hiếm khi vượt quá mức 5 mg/dl. Mức tăng thường rõ rệt khi đói, stress, kỳ kinh nguyệt, hoặc khi bị ốm không phải do gan hoặc khi bị nhiễm khuẩn. Vàng da là bất thường duy nhất phát hiện thấy khi khám thực thể. Một số người có những triệu chứng thông thường như khó chịu vùng bụng, buồn nôn hoặc mệt mỏi; tuy nhiên một số chuyên gia lại cho rằng những triệu chứng này là do lo lắng. Tất cả các xét nghiệm chức năng gan đều bình thường. Không khuyến cáo làm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm gan và sinh thiết gan, nhưng nếu làm thì sẽ bình thường. Không có biến chứng lâu dài từ hội chứng vô hại này và không cần điều trị.

5.Thời gian prothrombin

Gan sản xuất ra phần lớn các yếu tố tạo ra cục máu đông mà cơ thể dùng để ngăn chặn sự chảy máu. Thời gian để tạo ra một cục máu đông này gọi là thời gian prothrombin (PT), thông thường khoảng từ 9-11 giây. Vitamin K là một thành phần quan trọng của quá trình tạo cục máu đông. Nếu gan bị tổn thương nghiêm trọng hoặc bị thiếu vitamin K (đôi khi xảy ra ở bệnh gan mật như xơ gan mật tiên phát), PT sẽ kéo dài hơn nhiều so với bình thường, do vậy làm tăng nguy cơ chảy máu quá mức. Trong một vài trường hợp, tiêm vitamin K giúp PT trở về bình thường. Khi tiêm vitamin K mà có cải thiện được PT cho thấy rằng gan vẫn còn chức năng. Khi PT không bình thường hóa được khi tiêm vitamin K, tình trạng đó gọi là bệnh chảy máu (có xu hướng xảy máu quá mức), tổn thương gan nặng và/ hoặc có suy gan. Để điều chỉnh sự khác nhau trong các phòng thí nghiệm cách đo PT, thường dùng tỷ lệ quốc tế (INR).

7.Tiểu cầu

Tiểu cầu là tế bào máu giúp hình thành cục máu đông. Lá lách đóng vai trò như một kho dự trữ tiểu cầu. Ở những người xơ gan, lá lách thường phải làm việc nhiều để bù lại chức năng bị suy giảm do tổn thương gan. Điều này thường làm cho lách to và số lượng tiểu cầu giảm, được gọi là giảm tiểu cầu. Bình thường tiểu cầu có số lượng từ 150-400 x 103/ microlit. Nếu bệnh nhân thấp hơn 150 x 103/ microlit được coi là giảm tiểu cầu, và nên nghĩ đến khả năng bị xơ gan.

8.Amoniac (NH3)

Amoniac là một sản phẩm phân hủy của amino acid. Tăng mức ammoniac trong máu có thể là một dấu hiệu của bệnh não. Một số bác sĩ dựa vào mức ammoniac để theo dõi bệnh nhân bị bệnh não, nhưng có một vài nghiên cứu cho thấy ít có mối tương quan giữa nồng độ ammoniac và mức độ của bệnh não, và việc sử dụng nó vào mục đích này còn đang còn gây tranh cãi. Không khuyến cáo xác định nồng độ ammoniac cho bệnh nhân bị bệnh gan, vì bất kỳ bệnh gan nào cũng có thể làm tăng nhẹ thông số này và không phải là chẩn đoán của bệnh não. Cuối cùng, có nhiều yếu tố làm tăng giả mức ammoniac mà có thể biết được sự sai số bao gồm hút thuốc, dùng một vài thuốc nhất định (như acid valproic), tình cờ bị lẫn mồ hôi vào mẫu máu trong quá trình lấy máu và phòng thí nghiệm chậm làm phân tích máu.

9.Một vài lưu ý cuối cùng về xét nghiệm máu

Nên nhớ một số loại xét nghiệm máu riêng biệt không thể dùng để dự đoán sự tiển triển của bệnh gan. Bản thân những xét nghiệm này ít khi biểu hiện rõ rệt. Chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với một số các yếu tố khác, chúng phải được đánh giá kỹ lưỡng bởi bác sĩ. Nói cách khác, không nên quá đề cao những xét nghiệm riêng lẻ này. Mỗi xét nghiệm chỉ là một phần của sự phức tạp. Trong hầu hết các trường hợp, các xét nghiệm này chỉ đưa ra nhận định rằng có vấn đề gì bất ổn – chỉ là bước đầu tiên để đi đến sự chẩn đoán chính xác. Sau khi đánh giá các kết quả xét nghiệm thông thường, thường yêu cầu làm thêm xét nghiệm máu cụ thể để tìm ra nguyên nhân chính xác của các bất thường về gan. Bảng 3.1 liệt kê các xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh gan cụ thể. Nói chung, khoa xét nghiệm đưa cho bác sĩ kết quả xét nghiệm máu thông thường trong vòng 1 hoặc 2 ngày; nhưng kết quả xét nghiệm máu riêng biệt hơn có thể cần tới 2 tuần, phụ thuộc vào từng khoa xét nghiệm. Thời gian chờ đợi này thật không dễ dàng gì (bệnh nhân cần phải kiên nhẫn).

Bảng 3.1 Xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh cụ thể của gan

Kháng thể nhân viêm gan B (HbcAb) Kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HbsAg) Kháng thể bề mặt viêm gan B (HBsAb) Kháng thể e viêm gan B (HBeAb) Kháng nguyên e viêm gan B (HBeAg) DNA virus viêm gan B (HBV DNA)

Đường máu, sinh dục, mẹ mang thai lây con

Kháng thể virus viêm gan C (HCVAb) Acid Ribonucleic virus viêm gan C (HCV RNA) Tăng globulin miễn dịch (IgG)

Đường máu, sinh dục, mẹ mang thai lây con.

Viêm gan tự miễn

Kháng thể kháng nhân (ANA) Kháng thể cơ trơn (SMA) Kháng thể vi thể thận/ kháng gan (LKMAb) Tăng globulin miễn dịch G (IgG)

Bệnh gan do rượu

Không lây, do uống nhiều rượu

Nhiễm sắc tố sắt mô

Sắt Ferritin Phần trăm bão hòa transferrin Khả năng gắn sắt toàn phần (TIBC) Xét nghiệm gen – sự tương hợp trong ghép mô kháng nguyên hồng cầu (HLA-H) và phân tích thăm dò DNA bằng PCR.

Không lây Có tính gia đình

1.Siêu âm

Siêu âm được cho là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được dùng nhiều nhất để xem hình ảnh thai nhi ở phụ nữ mang thai, thực tế nó là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được dùng nhiều nhất để xem hình ảnh gan. Đây là phương pháp nhanh và ít tốn kém để quan sát hình ảnh của cơ quan này. Mặt dù được thực hiện tại phòng X quang nhưng thực tế không sử dụng tia X – sóng âm để thu được hình ảnh. Siêu âm thường được tiến hành vào lúc đói. Khi đó túi mật chứa đầy mật và dễ dàng nhìn thấy sỏi mật. Thực tế có tới 95% số sỏi mật được phát hiện ra nhờ siêu âm. Siêu âm cũng dùng để phát hiện những khối u trong gan có thể lành tính (không ung thư) hoặc ác tính (ung thư), nhưng nó không thể phân biệt được 2 loại này. Hơn nữa siêu âm có thể ước lượng được kích thước khối u. Tuy nhiên ngay cả khi siêu âm cho kết quả bình thường, điều này không có nghĩa là gan không có vấn đề. Thực tế, có nhiều người bị bệnh gan nhưng kết quả siêu âm vẫn thấy bình thường. Vì vậy đừng ngạc nhiên nếu bác sĩ yêu cầu làm thêm các xét nghiệm sau khi siêu âm.

3.Một vài điều kết luận về chẩn đoán hình ảnh

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đem lại nhiều kết quả có ích làm tăng sự chính xác trong chẩn đoán. Tuy nhiên, ngay cả các kỹ thuật tiên tiến này cũng không thể biết được toàn bộ quá trình đang diễn ra trong gan. Điều quan trọng là phải hiểu rằng gan được ngụy trang rất tốt. Ngay cả những người bị bệnh gan nặng và xơ gan có thể cho kết quả chẩn đoán hình ảnh bình thường. Đây là điều quan trọng cần nhớ và được lặp đi lặp lại. Siêu âm, chụp cắt lớp và cộng hưởng từ có thể cho kết quả hoàn toàn bình thường tại bất kỳ giai đoạn nào của bệnh gan. Điều này giải thích tại sao bác sĩ phải dựa vào sinh thiết gan, như một tiêu chuẩn vàng để đánh giá bệnh gan.

III.Kết luận

Sau khi xem xong phần trên bạn đã có thể hiểu rằng xét nghiệm máu và chẩn đoán hình ảnh có thể đưa ra một vài nhận định quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng xác định chính xác đang có bệnh gì với gan. Nó cũng không giúp đánh giá được mức độ viêm hoặc tổn thương gan. Sinh thiết gan là xét nghiệm duy nhất có thể cung cấp chính xác thông tin này. . Nhưng trước hết, điều quan trọng là phải gặp bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm để xác định khi nào cần làm sinh thiết gan và có kỹ năng để đọc kết quả và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất phục vụ cho việc điều trị. Điều này cũng lý giải những kỹ năng gì mà bác sĩ chuyên khoa cần có và có thể thu thập được thông tin này ở đâu và khi nào .

Xét Nghiệm Chức Năng Gan Có Tác Dụng Gì? Khi Nào Và Ai Cần Xét Nghiệm Chức Năng Gan?

Xét nghiệm chức năng gan được khuyến khích thực hiện hàng năm. Đôi khi nó được thực hiện với tần suất cao hơn để chẩn đoán, kiểm soát bệnh gan và một số điều kiện khác. Vậy xét nghiệm chức năng gan có tác dụng gì và khi nào cần thực hiện?

1. Vai trò của xét nghiệm chức năng gan

Xét nghiệm gan là giúp xác định xem gan của bạn có hoạt động có hiệu quả không.

Gan có rất nhiều chức năng quan trọng như: đào thải độc tố trong máu, chuyển đổi chất dinh dưỡng từ thực phẩm bạn ăn, lưu trữ khoáng chất và vitamin, điều hòa đông máu, duy trì cân bằng hormone, điều chỉnh lượng đường trong máu.

Mặt khác, gan cũng là nơi sản xuất cholesterol, protein, enzyme và mật giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng. Chính vì có rất nhiều chức năng quan trọng như vậy, nên gan càng dễ bị tổn thương. Việc xét nghiệm chức năng gan cần được thực hiện định kỳ để bảo vệ gan.

Ngoài ra, xét nghiệm chức năng gan còn có các vai trò khác như:

– Đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh gan, xác định giai đoạn bệnh.

– Theo dõi và kiểm soát sự tiến triển của các bệnh gan như viêm gan, xơ gan, ung thư gan,… Đồng thời các xét nghiệm chức năng gan cũng giúp bác sĩ đánh giá được hiệu quả của phác đồ điều trị bệnh gan đang áp dụng.

– Theo dõi tác dụng phụ của các loại thuốc có nguy cơ ảnh hưởng lớn đến gan.

2. Khi nào cần xét nghiệm chức năng gan?

– Khi cơ thể xuất hiện các triệu chứng báo hiệu gan bị tổn thương như: yếu đuối, mệt mỏi, kiệt sức, giảm cân bất thường, vàng da và vàng mắt, bụng sưng to, nước tiểu sẫm màu hoặc phân nhạt, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng, dễ bị bầm tím hoặc chảy máu bất thường.

– Nếu trong một đợt kiểm tra sức khỏe, hoặc theo dõi bệnh lý khác, bác sĩ chụp X-quang bụng, siêu âm, chụp CT hoặc chụp MRI đã quan sát thấy các bất thường ở gan. Khi đó, bạn cũng sẽ được chỉ định thực hiện các xét nghiệm chức năng gan.

– Khi có một số vấn đề y tế khác, mắc một số bệnh mãn tính, chẳng hạn như tăng huyết áp nặng, lupus , tiểu đường và ung thư ruột kết, có thể làm tăng khả năng mắc bệnh gan. Do đó cũng cần thực hiện xét nghiệm chức năng gan để chẩn đoán và phát hiện bệnh sớm.

3. Những đối tượng cần xét nghiệm chức năng gan

– Người sử dụng nhiều rượu bia làm tăng nguy cơ mắc bệnh gan do rượu, khiến gan bị tổn thương và suy giảm chức năng nhanh chóng.

– Người sắp kết hôn.

– Phụ nữ khi mang thai.

– Gia đình có tiền sử mắc bệnh gan.

– Người quan hệ tình dục không an toàn rất dễ bị lây nhiễm các bệnh viêm gan siêu vi.

– Những người chưa tiêm phòng viêm gan B. Viêm gan B là loại bệnh virus rất dễ lây lan. Mặt khác, viêm gan B có thể tiến triển thành xơ gan, thậm chí là ung thư gan, rất nguy hiểm.

– Người béo phì, tiểu đường, máu nhiễm mỡ… có nguy cơ cao bị gan nhiễm mỡ, có thể tiến triển thành xơ gan, suy gan.

– Người có sức khỏe kém, phải thường xuyên sử dụng thuốc trị bệnh. Thuốc được xử lý và chuyển hóa tại gan. Thuốc có thể khiến gan quá tải để đào thải độc tố. Do đó, uống thuốc thường xuyên rất dễ khiến gan bị suy yếu, cần được xét nghiệm chức năng gan để kiểm soát kịp thời.

– Những bệnh nhân có tiền sử viêm gan, ung thư gan, tổn thương gan, ghép gan, viêm gan truyền nhiễm hoặc xơ gan,… sẽ cần xét nghiệm chức năng gan định để đánh giá những thay đổi trong trong chức năng gan.

Các vấn đề về gan có thể khiến một người bị bệnh nặng và thậm chí có thể đe dọa tính mạng. Do đó, vai trò của phương pháp xét nghiệm chức năng gan là vô cùng quan trọng, giúp mọi người phát hiện và điều trị sớm bệnh gan, tránh các biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe. Nếu bạn thuộc đối tượng cần thực hiện xét nghiệm chức năng gan thì nên sớm đến bệnh viện để được bác sĩ tư vấn và thăm khám.