Top 8 # Xét Nghiệm Chức Năng Gan Sgot Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Xét Nghiệm Chức Năng Gan Sgpt, Sgot, Ggt Tại Đà Nẵng.

Xét nghiệm chức năng gan bao gồm những gì?

Xét nghiệm chức năng gan bao gồm việc bác sĩ sẽ định lượng một số enzym và kiểm tra nồng độ protein trong máu của người bệnh. Các xét nghiệm sinh hóa chính thường được bác sĩ tiến hành gồm các định lượng thông số ALT, AST, GGT:

– Aspartate Transaminase (AST): AST là enzym giúp chuyển hóa alanine, một axit amin. Tương tự như ALT, AST thường có trong máu ở mức thấp. Sự gia tăng nồng độ AST có thể chỉ ra tổn thương gan hoặc bệnh.

– Gamma-glutamyltransferase (GGT):GGT là một enzym trong máu, nồng độ GGT bình thường vào khoảng 3-60 U/L. Nếu nồng độ GGT cao hơn bình thường cho thấy gan hoặc ống dẫn mật bị hư hại.

Những lưu ý khi thực hiện xét nghiệm chức năng gan:

Sau khi thực hiện xét nghiệm chức năng gan, nếu kết quả xét nghiệm cho bạn biết bạn đang bị bệnh thì điều đầu tiên mà bạn cần phải làm chính là giữ cho tinh thần luôn ổn định. Và điều bạn hướng đến lúc này là điều trị bệnh, chứ không nên quá lo lắng mà ảnh hưởng đến tinh thần. Rất nhiều trường hợp người bệnh đã khỏi hẳn hoàn toàn nhờ thực hiện theo phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa.

Đồng thời với người bị bệnh gan, thì việc có một chế độ dinh dưỡng hợp lý là vô cùng quan trọng. Người bệnh nên kiêng ăn các thực phẩm không có lợi cho sức khỏe như thịt mỡ, thịt dê, lòng đỏ trứng… Bổ sung rau củ xanh, vitamin và khoáng chất. Đồng thời tuân thủ theo phương pháp điều trị của bác sĩ để nhanh chóng lấy lại được sức khỏe và hồi phục chức năng gan.

Xét nghiệm chức năng gan ở Đà Nẵng:

Phòng khám Medic Sài Gòn tại Đà Nẵng cung cấp gói xét nghiệm chức năng gan với chi phí chỉ 70.000vnđ, bên cạnh đó phòng khám còn có các gói xét nghiệm từ cơ bản đến nâng cao như xét nghiệm tầm soát ung thư, xét nghiệm tổng quát, xét nghiệm ADN, xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn NIPT.

Với phương châm phục vụ : UY TÍN – TẬN TÂM – CHẤT LƯỢNG, phòng khám hi vọng sẽ là nơi được quý khách đặt niềm tin và an tâm khi đến đây.

Địa chỉ: 97 Cao Thắng, Hải Châu, Đà Nẵng.

Mọi thắc mắc xin liên hệ : 091.555.1519 để được giải đáp một cách nhanh chóng nhất.

8 loại trái cây cải thiện chức năng gan:

Chỉ Số Xét Nghiệm Sgot Là Gì? Khi Nào Cần Xét Nghiệm Sgot ?

Nhiều người không biết xét nghiệm SGOT là gì? Đây có thể được hiểu là xét nghiệm máu thường được chỉ định đối với bệnh nhân gặp các vấn đề về gan, cũng là xét nghiệm để chẩn đoán tình trạng tổn thương gan (nếu có). Sự tăng, giảm của chỉ số SGOT có nhiều ý nghĩa, giúp phản ánh tình trạng bệnh lý về gan mà người bệnh có thể đang gặp phải.

1. Xét nghiệm SGOT là gì?

Xét nghiệm SGOT là xét nghiệm đánh giá tình trạng men gan. Men gan là tên gọi chung của các enzyme có trong gan, có vai trò tổng hợp và chuyển hóa các chất trong gan như glucid, protid, lipid,…

Khi tế bào gan gặp tổn thương, hư hại thì các chất men này có trong máu nhiều hơn. Do đó, xét nghiệm men gan trong đó có SGOT cho thấy định lượng các enzyme gan tăng, nghĩa là gan của bệnh nhân đang bị nguy hại.

Chỉ số men gan ở người có sức khỏe gan bình thường là:

– Chỉ số AST (SGOT): 20 – 40 UI/L.

– Chỉ số ALT ( SGPT): 20 – 40 UI/L.

– Chỉ số GGT: 5 – 65 UI/L và tùy từng hệ thống máy khác nhau sẽ có khoảng tham chiếu khác nhau.

Trong đó, chỉ số AST (SGOT) là viết tắt của Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminas, đặc trưng cho các tổn thương tế bào gan do xơ, viêm hay ung thư, ngoài ra cũng thể hiện tổn thương tim do nhồi máu, hoặc bệnh tiểu đường,…

2. Ý nghĩa các chỉ số men gan

2.1 Chỉ số SGOT

Khi enzyme được giải phóng vào máu với lượng bình thường thì các hoạt động trao đổi và chuyển hóa chất trong cơ thể diễn ra bình thường. Ngược lại, nếu chỉ số vượt quá mức bình thường thì nguy cơ bệnh nhân mắc các bệnh về gan rất lớn. Chỉ số càng cao thì lượng tế bào gan bị tổn thương càng nhiều, nguy cơ mắc bệnh càng cao.

Chỉ số SGOT thông thường khoảng từ 20- 40 UI/L, chủ yếu có ở các mô chuyển hóa cao như gan, tim hay cơ xương. Chỉ số SGOT tăng cao chủ yếu trong trường hợp tổn thương gan do viêm, xơ hay ung thư. Ngoài ra, các tổn thương tim do nhồi máu cũng làm tăng lượng SGOT. Ngược lại, nếu chỉ số SGOT giảm có thể trong các trường hợp đang mang thai hoặc bệnh tiểu đường,…

2.2 Chỉ số SGPT

Chỉ số SGPT thông thường ở khoảng từ 20- 40 UI/L. Chỉ số này tăng khi có các tổn thương tế bào gan. Chủ yếu dùng để phát hiện tổn thương ở tế bào gan. Khi có tổn thương, chỉ số tăng.

– Nếu 2 chỉ số này tăng nhẹ (<2 lần) thì chưa đáng lo ngại.

3. Khi nào cần làm xét nghiệm SGOT

Xét nghiệm SGOT được chỉ định khi nghi ngờ bệnh nhân có các dấu hiệu mắc bệnh gan, đặc biệt là viêm gan hay rối loạn chức năng gan.

Một số triệu chứng điển hình như:

– Buồn nôn, nôn.

– Bụng sưng hoặc đau.

– Vàng da.

– Nước tiểu đậm màu.

– Người nghiện rượu nặng.

– Cá nhân có gia đình tiền sử mắc bệnh gan.

– Người có tiền sử virus viêm gan.

– Người dùng nhiều thuốc có thể làm rối loạn chức năng gan.

4. Các ưu điểm khi xét nghiệm và điều trị bệnh gan tại Thu Cúc

Hệ thống y tế Thu Cúc quy tụ đội ngũ Giáo sư, bác sĩ giỏi trong lĩnh vực Gan mật. Hệ thống xét nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 15189:2012. Phục vụ chuyên nghiệp, thăm khám tận tình, đặt lịch nhanh chóng. Áp dụng thanh toán BHYT và Bảo hiểm bảo lãnh đúng theo quy định của nhà nước.

Xét nghiệm SGOT sẽ giúp phản ánh tình trạng của gan mà bạn đang gặp phải. Đây là điều cần thiết để có thể lên phác đồ điều trị phù hợp với từng bệnh nhân. Ngay khi có các biểu hiện triệu chứng về bệnh gan, bạn nên đến ngay các chuyên khoa gan mật uy tín để được chẩn đoán chính xác nguyên nhân và điều trị kịp thời.

Xét Nghiệm Sgot Có Mục Đích Gì?

Xét nghiệm SGOT là xét nghiệm men gan được thực hiện rất phổ biến, thường được chỉ định ở những bệnh nhân nghi ngờ các vấn đề về gan. Kết quả xét nghiệm SGOT cùng với các xét nghiệm men gan khác có vai trò quan trọng trong chẩn đoán nguyên nhân cũng như mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Do là cơ quan đảm nhận nhiệm vụ chuyển hóa các chất trong cơ thể, nên gan có rất nhiều men (enzym) giúp xúc tác các phản ứng sinh hóa. Bình thường các men này nằm bên trong các tế bào gan, khi tế bào gan bị hoại tử do viêm gan, xơ gan, ung thư gan… các men này sẽ tràn vào máu làm nồng độ của chúng trong máu tăng cao.

Transamine hay Aminotransferase là các men có nhiệm vụ xúc tác phản ứng trao đổi chuyển gốc NH2 giữa các amin với nhau. SGOT (Glutamic-oxaloacetic transamine) hay còn gọi là AST (Aspartate aminotransferase) là một men Transamine, có nhiều trong bào tương và ti thể của nhiều loại tế bào, nhiều nhất là tế bào gan, sau đó là tế bào cơ tim, cơ xương, thận, não, tủy, phổi, bạch cầu và hồng cầu.

Xét nghiệm SGOT không thực hiện riêng lẻ mà thường được thực hiện cùng xét nghiệm SGPT. SGPT(Glutamic-pyruvic transaminase) hay còn gọi ALT (Alanine aminotransferase) là một men Transamine tập trung chủ yếu trong các tế bào gan. Dựa kết quả xét nghiệm men gan tăng ít hay nhiều so với giá trị bình thường, men SGOT hay SGPT tăng ưu thế hơn, sẽ giúp bác sĩ định hướng chẩn đoán các nguyên nhân làm tăng men gan.

Giá trị bình thường của SGOT (AST) là từ 20-40 UI/L, giá trị của SGPT (AST) cũng từ 20-40 UI/L, tuy nhiên tùy theo hệ thống máy xét nghiệm có thể có những khoản tham chiếu khác nhau.

Nếu men SGOT < SGPT: bệnh nhân có thể bị tổn thương gan do thiếu máu, thắt động mạch gan, hội chứng Budd-Chari, tắc mật cấp, xơ gan, viêm gan tự miễn, viêm gan virus cấp, viêm gan do thuốc hoặc độc chất,…

Nồng độ chính xác của men gan SGOT hay SGPT không tương đồng với mức độ tổn thương gan hoặc giúp tiên lượng bệnh. Như trong bệnh viêm gan A, men gan của bệnh nhân có thể tăng rất cao, có khi lên đến hàng nghìn UI/L nhưng hầu hết bệnh nhân sẽ hồi phục hoàn toàn và không để lại di chứng. Trong khi ở những bệnh nhân viêm gan siêu vi B mạn tính, mức tăng men gan thường không cao, nhưng một tỷ lệ người bệnh viêm gan B mạn sẽ tiến triển thành xơ gan, ung thư gan,…

Viêm gan do virus B và C: xét nghiệm SGOT/SGPT <1, bệnh nhân có nhiều nguy cơ như sử dụng ma túy, quan hệ nhiều bạn tình, tiêm chích, truyền máu. Để chẩn đoán xác định, bệnh nhân cần thực hiện thêm các xét nghiệm như HbsAg, antiHBs, BHV DNA, anti HCV, HCV RNA,…

Viêm gan do thuốc: có nhiều thuốc gây tăng men gan như Paracetamol, Diclofenac, Naproxen, Phenylbutazone, Phenytoin, Acid Vaproic, Tetracyclin, Isoniazid, Trimethoprim, các thuốc hạ cholesterol máu nhóm statin,…Đối với tình trạng tăng men gan do thuốc, men gan sẽ trở về bình thường sau vài tuần hoặc vài tháng ngừng thuốc. Khi xét nghiệm men gan, bệnh nhân cần thông báo cho bác sĩ tất cả các thuốc đang sử dụng, kể cả thảo dược, thuốc đông y, thực phẩm chức năng,… Các thông tin này có thể giúp bác sĩ chẩn đoán nguyên nhân và đưa ra phương pháp điều trị chính xác hơn.

Bệnh gan thoái hóa mỡ: kết quả xét nghiệm men gan SGOT/SGPT <1, bệnh nhân có rối loạn lipid, tăng đường huyết đói. Thường gặp ở người bệnh béo phì, rối loạn lipid máu, đái tháo đường.

Bệnh gan tự miễn: cùng với tăng men gan là tình trạng tổn thương da ở niêm mạc, thận, bệnh thường gặp ở nữ. Để chẩn đoán chính xác cần sinh thiết thận.

Các nguyên nhân thường gặp khác là bệnh ứ sắt mô (hemochromatosis), bệnh lý về cơ do lao động nặng hoặc sử dụng một số thuốc gây ly giải cơ, bệnh tán huyết, bệnh thiết α1-antitrypsin, bệnh Crohn và viêm loét kết tràng,…

XEM THÊM:

Các Xét Nghiệm Về Chức Năng Gan

1. Xét nghiệm chức năng gan là gì?

Xét nghiệm chức năng gan thường được khuyến nghị trong các tình huống sau:

Kiểm tra thiệt hại do nhiễm trùng gan, như viêm gan B và viêm gan C

Theo dõi tác dụng phụ của một số loại thuốc được biết là ảnh hưởng đến gan

Tiền sử bệnh gan, để theo dõi bệnh và cách điều trị đặc biệt hiệu quả

Người bệnh gặp các triệu chứng rối loạn gan

Người bệnh có điều kiện y tế như triglyceride cao, tiểu đường , huyết áp cao hoặc thiếu máu

Uống rượu nhiều

Bệnh túi mật

2. Một số xét nghiệm chức năng gan phổ biến

Một số xét nghiệm chức năng gan thành các nhóm như sau:

Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan.

Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc.

Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng tổng hợp.

2.1 Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử tế bào gan

AST (Aspartate aminotransferase) hiện diện ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan. Ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. Bình thường AST < 40 UI/L.

ALT (Alanine aminotransferase) hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan cho nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan. Bình thường ALT < 40 UI/L.

Các transaminase tăng trong hầu hết các bệnh về gan nhưng không hoàn toàn đặc hiệu cho gan vì còn tăng trong các bệnh khác như nhồi máu cơ tim, tổn thương cơ vân (viêm cơ, loạn dưỡng cơ), cường giáp hoặc nhược giáp, bệnh celiac… Ngược lại, các enzyme này có thể bị giảm giả tạo khi có tăng urê máu.

Tăng vừa (< 300 UI/L) gặp trong viêm gan do rượu. Transaminase tăng chủ yếu là AST nhưng trị số không quá 2-10 lần giới hạn trên mức bình thường.

Tăng nhẹ (< 100 UI/L) có thể gặp trong viêm gan virus cấp, nhẹ và bệnh gan mạn tính khu trú hay lan tỏa (xơ gan, viêm gan mạn, di căn gan), tình trạng tắc mật hoặc gan nhiễm mỡ. Đối với vàng da tắc mật, đặc biệt là sỏi ống mật chủ, ALT thường tăng < 500 UI/l.

Lactate dehydrogenase (LDH) Là xét nghiệm không chuyên biệt cho gan vì men này có ở khắp các mô trong cơ thể (tim, cơ, xương, thận, hồng cầu, tiểu cầu, hạch bạch huyết). LDH tăng cao và thoáng qua gặp trong hoại tử tế bào gan, sốc gan. Tăng LDH kéo dài kèm tăng ALP gợi ý đến các tổn thương thâm nhiễm ác tính ở gan.

Ferritin: là một loại protein dự trữ sắt ở trong tế bào, giữ nhiệm vụ điều chỉnh sự hấp thu sắt ở đường tiêu hóa tùy theo nhu cầu của cơ thể.

Bình thường, ferritin ở nam 100-300 mg/L, ở nữ 50-200 mg/L. Giảm ferritin gặp trong ăn thiếu chất sắt, thiếu máu thiếu sắt, ăn chay trường, xuất huyết rỉ rả, thiếu máu tán huyết mạn, người cho máu thường xuyên, chạy thận nhân tạo. Tăng ferritin còn gặp trong bệnh ứ sắt mô, bệnh ung thư (gan, phổi, tụy, vú, thận), bệnh huyết học (bệnh Hodgkin, bạch cầu cấp), hội chứng viêm và nhiễm trùng, bệnh thể keo (collagenosis), ngộ độc rượu, thiếu máu tán huyết, thalassemia…

2.2 Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc

Bilirubin huyết thanh

Tăng bilirubin GT (thuờng < 15 mg/dL): có thể do tăng sản xuất bilirubin (tán huyết, tạo hồng cầu không hiệu quả, tái hấp thu từ khối máu tụ) hoặc do giảm sự bắt giữ bilirubin tại tế bào gan (hội chứng Gilbert).

Bilirubin niệu

Chỉ hiện diện ở dạng bilirubin TT. Khi có bilirubin niệu, chắc chắn có vấn đề về gan mật. Bilirubin niệu được phát hiện nhanh chóng nhờ que nhúng. Kết quả có thể dương tính trước khi có vàng da rõ trên lâm sàng nhưng đến khi bệnh nhân hết vàng da, bilirubin niệu trở về âm tính trước khi giảm bilirubin huyết.

Urobilinogen

Là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, được tái hấp thu vào máu theo chu trình ruột – gan và sau đó cũng được bài tiết qua nước tiểu. Trong trường hợp tắc mật hoàn toàn, sẽ không có urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết (tăng sản xuất), xuất huyết tiêu hóa hoặc bệnh lý gan. Bình thường urobilinogen 0,2 – 1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

Phosphatase kiềm (alkaline phosphatase, ALP)

ALP là enzym thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là ở gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ít hơn. Bình thường ALP 25 – 85 U/L hoặc 1,4 – 4,5 đơn vị Bodansky.

ALP tăng nhẹ và vừa (hai lần bình thường) có thể gặp trong viêm gan, xơ gan, di căn hoặc thâm nhiễm ở gan (bệnh bạch cầu, lymphoma, sarcoidosis). ALP tăng cao (3-10 lần bình thường) thường do tắc mật trong hoặc ngoài gan.

5′ Nucleotidase (5NT)

Đây là một ALP tương đối chuyên biệt cho gan, giúp xác định tình trạng tăng ALP là do gan hay do xương hoặc do các trạng thái sinh lý như trẻ em đang tuổi tăng trưởng hoặc phụ nữ có thai. Sự tăng 5NT có tương quan với mức tăng ALP. Bình thường 5NT 0,3 – 2,6 đơn vị Bodansky/dL

-g-glutamyl transferase , g-glutamyl transpeptidase (GGT, g-GT)

Bình thường GGT # 30 U/L ở nữ và # 50 U/L ở nam. Nguyên nhân thường gặp nhất là tình trạng nghiện rượu mạn tính, tắc mật, sau uống một số thuốc gây cảm ứng enzym ở gan (acetaminophen, phenytoin) và một số trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu. Ngoài ra còn tăng trong suy thận, nhồi máu cơ tim, viêm tụy cấp, đái tháo đường, cường giáp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Amoniac máu (NH3)

NH3 được sản xuất từ chuyển hóa bình thường của protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đại tràng. Gan giữ nhiệm vụ khử độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận.

Bình thường NH3 máu 5-69 mg/dL. NH3 tăng trong các bệnh gan cấp và mạn tính. NH3 máu không phải là xét nghiệm đáng tin cậy để chẩn đoán bệnh não do gan. NH3 có thể trở về bình thường khoảng 48 – 72 giờ trước khi có cải thiện tình trạng thần kinh.

2.3 Nhóm xét nghiệm chức năng tổng hợp

Phần lớn các protein huyết tương được tổng hợp từ gan.

Albumin huyết thanh

Gan là nơi duy nhất tổng hợp albumin cho cơ thể. Albumin duy trì áp lực keo trong lòng mạch và là chất vận chuyển các chất trong máu đặc biệt là thuốc. Bình thường albumin 35 -55 g/L. Lượng albumin máu chỉ giảm trong các bệnh gan mạn tính (xơ gan) hoặc khi tổn thương gan rất nặng. Ở bệnh nhân xơ gan cổ trướng, lượng albumin giảm còn do bị thoát vào trong dịch báng. Ngoài ra còn gặp trong suy dinh dưỡng hoặc bị mất albumin bất thường qua đường tiểu (hội chứng thận hư) hoặc qua đường tiêu hóa (viêm đại tràng mạn).

Globulin huyết thanh

Được sản xuất từ nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, bao gồm nhiều loại protein vận chuyển các chất trong máu và các kháng thể tham gia hệ thống miễn dịch thể dịch. Bình thường globulin 20 – 35 g/L.

Trong xơ gan globulin tăng cao. Ngoài ra, kiểu tăng của các loại globulin cũng có thể gợi ý đến một số bệnh gan đặc biệt, ví dụ IgG tăng trong viêm gan tự miễn, IgM tăng trong xơ gan ứ mật nguyên phát.

Thời gian Prothrombin (PT)

Là thời gian chuyển prothrombin thành thrombin khi có sự hiện diện của thromboplastin và Ca++ cùng các yếu tố đông máu. Để chuẩn hóa kết quả PT, người ta thường chuyển đổi thành INR (International Normalized Ratio). Bình thường INR = 0,8-1,2.

Khi PT kéo dài thường là dấu hiệu tiên lượng nặng. Thiếu vitamin K do tắc mật kéo dài hay rối loạn hấp thu mỡ (tiêu chảy mỡ, viêm tụy mạn) cũng làm PT kéo dài nhưng khi tiêm 10 mg vitamin K, PT sẽ trở về ít nhất 30% mức bình thường trong vòng 24 giờ (nghiệm pháp Kohler). Trước khi phẫu thuật hoặc làm sinh thiết gan, phải kiểm tra chức năng đông máu.

nguồn: Viện Pauster