Top 10 # Xét Nghiệm Chức Năng Thận Như Thế Nào Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Xét Nghiệm Chức Năng Thận Như Thế Nào Chính Xác?

Thận là cơ quan không thể thiếu của hệ tiết niệu. Suy thận là tình trạng giảm hoạt động của thận, làm cho thận không đảm bảo được các nhiệm vụ của mình, ảnh hưởng đến hoạt động của toàn cơ thể. Chính vì thế, việc xét nghiệm chức năng thận là việc không thể thiếu nhằm đánh giá hoạt động của cơ quan này và có những điều trị bệnh trong trường hợp cần thiết.

ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG THẬN CẦN NHỮNG XÉT NGHIỆM NÀO?

Creatinin, BUN (Blood Urea Nitrogen) là các sản phẩm của quá trình chuyển hóa đạm của cơ thể, được thận thải ra bằng đường nước tiểu. Các trị số bình thường sẽ thay đổi tùy theo từng phòng xét nghiệm. Nhưng trung bình, BUN ở khoảng từ 6đến 24 mg/dL (tương đương với 2,5đến 8 mmol/L), creatinin ở khoảng 0,5đến 1,2mg/dL (tương đương 45 đến 110 mmol/L) là bình thường. Các chỉ số này sẽ tăng lên trong máu khi chức năng thận trở nên xấu đi.

Xét nghiệm sinh hóa chức năng thận

Tình trạng rối loạn chức năng thận sẽ gây ra sự mất cân bằng các chất điện giải trong cơ thể.

Natri trong máu bình thườngdao động từ 135đến 145 mmol/L. Ở những người suy thận, natri máu sẽ giảm, có thể do mất natri qua da, đường tiêu hóa, qua thận nhưng cũng có thể do thừa nước. Các triệu chứng của việc giảm natri ở máu chủ yếuxảy ra ở hệ thần kinh như nhức đầu, buồn nôn, lừ đừ, hôn mê, co giật.

Kali trong máu bình thường đạt từ 3,5đến 4,5 mmol/L. Ở bệnh nhân suy thậnsẽ xảy ra tình trạng tăng Kali trong máu do thận giảm thải kali. Các triệu chứng của tình trạng này từ nhẹ đến nặngbao gồm mệt mỏi, dị cảm, mất phản xạ, liệt cơ, rối loạn nhịp tim.

Canxi máu bình thường nằm trong khoảng 2,2đến 2,6 mmol/L. Suy thận sẽ có biểu hiện giảm canxi máu kèm theo tăng phosphatvớitriệu chứng chủ yếu là dấu kích thích thần kinh cơ gồm tăng phản xạ gân xương, co cứng cơ, co giật, rối loạn nhịp tim.

Trong xét nghiệm chức năng thận, bình thường pH máu được duy trì ở mức 7,37 đến 7,43 cho phép các hoạt động tối ưu của men tế bào, yếu tố đông máu và các protein gây nên co cơ. Kết quả xét nghiệm chức năng thận cho thấy thận bị suy sẽ phát hiện ra việc giảm thải các acid hình thành trong quá trình chuyển hóa của cơ thể hoặc mất bicarbonat gây tình trạng toan chuyển hóa cho cơ thể. Toan hóa máu gây nên triệu chứng loạn nhịp tim, rối loạn hô hấp làm nặng thêm tình trạng tăng kali máu.

Chỉ số Acid Uric máu trung bình ở namlà 5,1 ± 1,0 mg/dL (420 μmol/lít)trong khi đó ở nữlại là 4,0 ± 1mg/dL (360 μmol/lít). Acid uric máu tăng có thể gây tổn thương thận, nhưng cũng có thể là hậu quả do bị suy thận không thải được.Ngoài ra, Acid uric máu tăng cũng có thể gợi ý bệnh nhân có kèm theo sỏi của hệ tiết niệu.

Xét nghiệm chức năng thận bằng việc đánh giá tỷ trọng nước tiểucũng là một phương pháp phổ biến. Tỷ trọng nước tiểu bình thườngnằm trong khoảng 1,01 đến 1,020 trong đó nước tiểu 24h của người lớn ăn uống bình thường có tỷ trọng từ 1,016 đến 1,022. Việc suy giảm chức năng thận giai đoạn sớm sẽ làm giảm độ cô đặc của nước tiểu, dẫn đến tỷ trọng nước tiểu giảm. Trong trường hợp nghi ngờ, bệnh nhân sẽ được làm thêm: so sánh tỷ trọng nước tiểu ngày và đêm, nghiệm pháp pha loãng nước tiểu, nghiệm pháp cô đặc nước tiểu….

Định lượng Protein nước tiểu 24 giờ

Bình thường: Protein trong nước tiểu nằm trong khoảng 0 đến 0,2 g/24h.

Đặc điểm của protein niệu do bệnh cầu thận là dai dẳng và thường lớn hơn 0,3 g/l. Kết quả xét nghiệm chức năng thận này cho thấy protein niệutăngcó thể do một số bệnh gây thương tổn cầu thận, viêm cầu thận cấp do nhiễm độc thuốc hoặc hóa chất độc, suy thận, các bệnh lý có ảnh hưởng đến thận.

Ở người bình thường, albumin huyết thanh khoảng 35 đến 50 g/L, chiếm 50 – 60% protein toàn phần. Albumin giảm mạnh trong trường hợp bệnh nhân mắc bệnh lý cầu thận cấp.

Giá trị bình thườngcủa chỉ số này là 60 đến 80 g/L. Protein toàn phần huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận protein toàn phần sẽ giảm nhiều hơn trong các bệnh thận khi màng lọc cầu thận bị tổn thương.

Tình trạng chức năng thận chỉ có thể đánh giá chính xác bằng cách thực hiện sinh thiết thận, đọc các cấu trúc của các đơn vị thận dưới kính hiển vitrong khi các xét nghiệm chức năng thận hiện nay chỉ có thể đánh giá được tương đối tình trạng của thận, vì thế cần kết hợp nhiều xét nghiệm.

Bác sĩ Hà Nội – Kênh thông tin tổng hợp, chia sẻ kiến thức y khoa hàng đầu Việt Nam, sẵn sàng tư vấn – giải đáp tất cả các vấn đề sức khỏe mà bạn đang gặp phải.

Xét Nghiệm Gan Như Thế Nào?

Xét nghiệm gan như thế nào để có thể đánh giá tình trạng hoạt động bất thường của gan, để có thể kịp thời điều trị và phòng ngừa biến chứng?

Gan là một bộ phận quan trọngtrong cơ thể, gan thực hiện hơn 500 chức năng khác nhau. Khi gan bị tổn thương không chỉ gan bị ảnh hưởng mà các bộ phận khác trong cơ thể cũng chịu thương tổn. Việc luôn theo dõi tình trạng của gan là rất quan trọng và cần thiết. Xét nghiệm chức năng gan là một trong những cách để phát hiện ra các bệnh về gan. Và một trong những phương pháp hiệu quả và hay được sử dụng nhất đó là xét nghiệm máu viêm gan B

Xét nghiệm máu giúp chẩn đoán các bệnh về gan

KIỂM TRA BỆNH GAN, XÉT NGHIỆM GAN LÀ GÌ?

Xét nghiệm gan (LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của gan, kiểm tra bệnh gan xem gan có hoạt động bình thường không, có những dấu hiệu bất thường nào ở trong gan không… Ngoài ra việc xét nghiệm chức năng gan còn giúp các bác sĩ biết được trong gan có chứa mầm bệnh nào không, có virus gây viêm gan không… Nhưng không phải cứ xét nghiệm chức năng gan là có thể phát hiện được những loại bệnh đang tiềm ẩn ở trong gan, mà cần xét nghiệm chuyên sâu hơn, đặc biệt hơn mới có thể phát hiện được những bệnh đang ẩn mình ở trong lá gan của bạn.

Ngoài ra việc xét nghiệm kiểm tra bệnh gan giúp cảnh báo cho bác sĩ biết có điều gì bất ổn ở trong gan, điều bất ổn đó có nghiêm trọng và nguy hiểm không. Khi xét nghiệm tình trạng chức năng của gan, giúp các bác sĩ xác định sự cần thiết để tiến hành thêm các xét nghiệm khác. Vậy xét nghiệm gan như thế nào?

Kết hợp các kết quả xét nghiệm gan thêm cùng với LFTs, các bác sĩ sẽ có cơ sở để chẩn đoán liệu gan bị bệnh gì và có đang hoạt động tốt không. Các bác sĩ ở phòng khám Kim Mã cũng cho biết, bằng việc lưu giữ một loạt kết quả LFTs từ những tháng và năm trước đó, trong một số trường hợp cả bác sĩ và bệnh nhân có thể dự đoán liệu tình trạng gan có ổn định không, có được cải thiện không, có hồi phục hoặc xấu đi không, các biện pháp điều trị có đáp ứng không, có cần sử dụng thử biện pháp khác và liệu đã đến lúc bệnh nhân cần phải cấy phép gan chưa.

Xét nghiệm men gan: Có 4 men gan được đưa vào xét nghiệm thông thường là AST, ALT, photphate kiềm (AP) và GGTP. Nếu có tình trạng tăng men gan thì có thể người bệnh đang mắc các bệnh lý về gan- mật

Men gan cao có thể cảnh báo bạn đang mắc một số bệnh về gan

Bilirubin: Đây là chất do gan sản xuất khi tham gia vào quá trình tái tạo hồng cầu già. Nếu tăng Bilirubin thì có thể thường đi kèm với tình trạng gan kém hoặc tắc mật.

Protein gan

Albumin

Thời gian prothrombin

Globulin miễn dịch

Tiểu cầu

Amoniac

LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC CHỨC NĂNG GAN CÓ HOẠT ĐỘNG BÌNH THƯỜNG HAY KHÔNG?

Nên kiểm tra sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện các bệnh về gan

Xét nghiệm gan như thế nào để biết được chức năng gan có hoạt động bình thường hay không là một câu hỏi mà được rất nhiều người quan tâm. Nhưng theo các bác sĩ ở phòng khám Kim Mã cho biết, muốn biết chức năng gan có hoạt động bình thường hay không cần tới các bệnh viện, phòng khám chuyên về gan để xét nghiệm gan , kiểm tra chức năng gan.

Các Chỉ Số Xét Nghiệm Suy Thận Đọc Như Thế Nào, Có Ý Nghĩa Gì?

Nhưng dựa vào đâu để biết chức năng thận là bình thường hoặc bị suy thận?

Cách đọc một số chỉ số xét nghiệm chức năng thận phổ biến

1. Creatinin máu và nước tiểu:

Creatinin được tạo ra ở cơ, chủ yếu từ creatinphosphat và creatin ở cơ. Creatinin theo máu qua thận, được thận lọc rồi bài tiết ra nước tiểu.

+ Bình thường:

Nồng độ creatinin huyết tương(huyết thanh): 55 – 110 àmol/l.

Nước tiểu: 8 – 12 mmol/24h (8000 – 12000 àmol/l).

Trong lâm sàng, người ta thường tính toán độ thanh lọc creatinin và độ thanh lọc urê của thận để đánh giá chức năng lọc của thận. Độ thanh lọc (thanh thải = clearance) của một chất là số lượng “ảo” huyết tương (tính theo ml/phút) đã được thận lọc và đào thải hoàn toàn chất đó qua nước tiểu trong 1 phút. Độ thanh lọc của creatinin ( Ccre) được tính theo công thức: Ccre (ml/phút) = (U.V)/P

Trong đó: U: Nồng độ creatinin nước tiểu (àmol/l). P: Nồng độ creatinin huyết tương (àmol/l). V: Lượng nước tiểu trong một phút (ml/phút), là lượng nước tiểu đong được trong 24 giờ quy ra ml chia cho số phút trong một ngày (24 x 60= 1440 phút). Ví dụ: Nước tiểu đong được 1,2 l/24h thì V = 1200/1440 = 0,833 ml/ phút.

+ Bình thường:

Nồng độ urê máu: 3,6 – 6,6 mmol/l.

Nồng độ urê nước tiểu : 250 – 500 mmol/24h.

3. Albumin:

Albumin là một trong hai thành phần chính của protein huyết thanh (albumin, globulin).

+ Bình thường:

Albumin huyết thanh có khoảng 35 – 50 g/l.

Protein HT = Albumin (55- 65%) + Globulin (35 – 45%). Globulin gồm: α1, α2 , β và γ- globulin.

4. Các chất điện giải (Na+, K+, Cl-, Ca TP hoặc Ca++) + Bình thường:

Na+ = 135 – 145 mmol/l.

K+ = 3,5 – 5,5 mmol/l.

Cl- = 95 – 105 mmol/l.

Ca TP = 2,0 – 2,5 mmol/l.

Ca++ = 1,0 – 1,3 mmol/l.

5. Protein toàn phần huyết tương:

Protein toàn phần huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận. Bình thường, protein có khối lượng phân tử lớn không qua được màng lọc cầu thận, nước tiểu không có protein hay protein niệu (-).

+ Bình thường:

Protein TP huyết tương = 60 – 80 g/l.

6. Protein nước tiểu 24 giờ:

+ Bình thường: Protein trong nước tiểu = 0 – 0,2 g/24h.

7. Tỷ trọng nước tiểu

Xác định tỷ trọng nước tiểu dựa trên sự giải phóng proton (H+) từ polyacid với sự có mặt của các cation có trong nước tiểu. Proton (H+) được giải phóng gây nên sự thay đổi màu của chất chỉ thị bromothymol bleu từ xanh đến xanh lục rồi tới vàng. Cường độ màu sẽ tỷ lệ tỷ trọng niệu.

+ Bình thường: Tỷ trọng nước tiểu là 1,01 – 1,020 (nước tiểu 24h của người lớn ăn uống bình thường có tỷ trọng từ 1,016 – 1,022).

#Đối với suy thận cấp: Giai đoạn sớm:

Thiểu niệu (< 50ml/ngày) trong vòng < 2 tuần. Vô niệu hơn 24h thường không xảy ra.

Urê máu tăng < 8,3 mmol/l/ngày.

Creatinin máu tăng.

Có thể amylase và lipase máu tăng mà không kèm theo viêm tụy.

Có thể hạ canxi máu.

Nhiễm toan chuyển hóa.

Nước tiểu trở nên trong hơn sau vài ngay kể từ khi khởi phát suy thận cấp. Số lượng nước tiểu hàng ngày cũng tăng.

Urê máu tiếp tục tăng trong vòng vài ngày sau.

Kali máu tăng. Khi kali máu lớn hơn 9 mmol/l thì xuất hiện những thay đổi trên điện tim.

Mức độ nhiễm toan chuyển hóa tiếp tục tăng.

Giai đoạn đa niệu:

Một lượng lớn kali được đào thải làm giảm nồng độ kali máu.

Nồng độ natri trong nước tiểu 50 – 70 mmol/l.

Natri và chlor huyết tương có thể tăng.

Tăng canxi máu có thể gặp ở một số bệnh nhân có tổn thương cơ.

#Đối với suy thận mạn:

Urê và creatinin máu tăng, chức năng thận bị giảm sút.

Mất khả năng cô đặc của thận.

Các bất thường trong nước tiểu thường được phát hiện đầu tiên. Có thể là protein niệu, hồng cầu niệu, bạch cầu niệu, trụ hạt, trụ trong.

Natri máu giảm: việc giảm Na+ máu thường kèm theo tăng Na+ trong nước tiểu.

Kali máu tăng.

Canxi máu giảm.

Nhiễm toan (do giảm đào thải NH4+ và mất nhiều bicarbonat).

Phosphat máu tăng khi độ thanh thải creatinin giảm xuống khoảng 25ml/phút.

Magie máu tăng khi mức lọc cầu thận giảm < 30 ml/phút.

Tăng acid uric máu, thường nhỏ hơn 595 àmol/l. Nếu có các triệu chứng lâm sàng của bệnh Gút và tiền sử gia đình có người bị Gút hay nồng độ acid uric máu lớn hơn 595 àmol/l thì phải loại trừ bệnh Gút nguyên phát do thận.

Creatinekinase (CK) máu có thể tăng.

Tăng triglycerid, cholesterol, VLDL: thường thấy trong suy thận.

Cần biết rằng: Biểu hiện lâm sàng của suy thận chỉ xuất hiện khi thận bị hủy hoại trên 90% đơn vị hoạt động của cả hai thận. Những xét nghiệm định kỳ rất quan trọng để phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời. Do đó hãy tạo thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi năm và thực hiện các xét nghiệm đơn giản có tính định hướng như xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng. Nếu tiền căn gia đình có các bệnh di truyền về thận hoặc có người thân bị suy thận cần làm thêm các xét nghiệm chuyên biệt về di truyền.

Kiểm Tra Chức Năng Thận Bằng Xét Nghiệm Nào? ✅

Xét nghiệm máu Kiểm tra chức năng thận bằng xét nghiệm nào?

Độ lọc cầu thận (GFR)

Xét nghiệm này thường được dùng để xác định sớm suy thận mạn, là một phương pháp đo lưu lượng máu lọc qua cầu thận trong một đơn vị thời gian. Nó có thể được tính toán từ mức độ creatinine huyết thanh kết hợp với tuổi, cân nặng, giới tính và kích thước cơ thể của bạn. GFR bình thường có thể thay đổi tùy theo tuổi tác (khi bạn già đi nó có thể giảm). Giá trị bình thường đối với GFR là 90 hoặc cao hơn. GFR dưới 60 là dấu hiệu cho thấy thận đang bị giảm chức năng. GFR dưới 15 cho thấy rằng thận của bạn đã bước đến suy thận giai đoạn cuối và cần phải điều trị bằng các biện pháp thay thế thận, chẳng hạn như lọc máu hoặc ghép thận.

Creatinine huyết thanh

Creatinine là một chất thải do các cơ bắp tiết ra, là chất nội chuyển hóa định được tổng hợp với tốc độ ổn định trong cơ thể, không được tái hấp thu mà chỉ một lượng nhỏ được bài tiết. Nồng độ creatinin trong máu có thể khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi, chủng tộc và kích thước cơ thể. Thông thường, nếu nồng độ creatinin lớn hơn 1,2 đối với phụ nữ và lớn hơn 1,4 đối với nam giới có thể là một dấu hiệu ám chỉ thận đang bị giảm chức năng. Nếu bệnh thận của bạn ngày càng nặng, thì nồng độ creatinin trong ngày càng tăng.

Cystatin C

Cystatin C là một protein trọng lượng phân tử nhỏ được tạo ra bởi tế bào có nhân, được lọc ở thân. Nồng độ chất này không bị ảnh hưởng bởi giới tính, chủng tộc, tuổi và khối lượng cơ. Xét nghiệm này có giá trị tương đương xét nghiệm creatinin huyết tương và độ thanh thải của creatinin. Tăng Cystatin C thường xuất hiện sớm trước khi giảm mức lọc cầu thận hoặc tăng creatinin.

Xét nghiệm ure máu (BUN)

Ure máu được tạo ra từ sự phân hủy của protein trong thực phẩm mà bạn ăn. Ure được lọc qua cầu thận và khoảng 40% được tái hấp thu ở ống thận. Do đó trị số này hay phụ thuộc vào chế độ ăn (ăn nhiều protein thì xét nghiệm Ure sẽ tăng) vì vậy nó ít được sử dụng để đánh giá chức năng thận. Nồng độ BUN bình thường là từ 7 đến 20. Khi chức năng thận của bạn giảm, nồng độ BUN sẽ tăng.

Các xét nghiệm hình ảnh Kiểm tra chức năng thận bằng xét nghiệm nào?

CT scan có cản quang

Kỹ thuật chụp ảnh này sử dụng chất cản quang để tạo ra hình ảnh thận. Nó cũng có thể được sử dụng để tìm ra những bất thường về cấu trúc và sự hiện diện của các vật gây nghẽn dòng nước tiểu.

Siêu âm

Xét nghiệm này sử dụng sóng âm thanh để có được hình ảnh của thận. Nó có thể được sử dụng để tìm ra những bất thường về kích thước hay vị trí của thận. Xét nghiệm này còn phát hiện được các vật gây tắc nghẽn dòng nước tiểu của bạn như sỏi hoặc khối u.

Sinh thiết thận Kiểm tra chức năng thận bằng xét nghiệm nào?

Sinh thiết có thể được thực hiện với một trong các lý do sau đây:

Xác định chính xác quá trình phát triển của bệnh thận và xác định xem nó có đáp ứng được với các phương pháp điều trị hay không;

Đánh giá mức độ tổn hại đã xảy ra ở thận;

Tìm nguyên nhân tại sao thận ghép vào không hoạt động tốt.

Sinh thiết thận được thực hiện bằng cách sử dụng một cây kim mỏng với một cạnh sắc bén cắt những miếng nhỏ của mô thận để kiểm tra dưới kính hiển vi.

Xét nghiệm nước tiểu Kiểm tra chức năng thận bằng xét nghiệm nào?

Một số xét nghiệm nước tiểu chỉ yêu cầu vài mililit nước tiểu của bạn. Tuy nhiên, một số xét nghiệm cần thu thập tất cả các nước tiểu thải ra trong 24 giờ. Xét nghiệm nước tiểu 24 giờ giúp bác sĩ biết được thận của bạn sản xuất ra bao nhiêu nước tiểu trong một ngày. Xét nghiệm này cũng có thể đo chính xác lượng protein có trong nước tiểu của bạn trong vòng 24 giờ.

Điện di nước tiểu

Lượng protein bài tiết qua thận khoảng 50 -150mg/24h. Protein nước tiểu xuất hiện khi thận bị tổn thương hay tăng immunoglobulin huyết thanh. Xét nghiệm này giúp phân biệt được viêm cầu thận cấp hay protein niệu do tổn thương ống thận và giúp xác định, phân loại các protein nước tiểu.

Tổng phân tích nước tiểu

Bác sĩ có thể là quan sát một mẫu nước tiểu bằng kính hiển vi hoặc sử dụng que thử. Que thử là một mẫu giấy đã được tẩm lên đó các chất hóa học, chúng được nhúng vào một mẫu nước tiểu của bạn. Các dải chất hóa học sẽ thay đổi màu sắc khi có sự hiện diện của những bất thường trong nước tiểu ví dụ như số lượng protein quá nhiều, có máu, mủ, vi khuẩn và đường dư thừa trong nước tiểu. Xét nghiệm nước tiểu có thể giúp bác sĩ phát hiện một loạt các rối loạn về thận và đường tiết niệu bao gồm các vấn đề như bệnh thận mãn tính, tiểu đường, nhiễm trùng bàng quang và sỏi thận.

Protein trong nước tiểu

Xét nghiệm này có thể làm chung với xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu hoặc có thể có một que thử riêng để thực hiện xét nghiệm này. Tình trạng lượng protein dư thừa trong nước tiểu được gọi là protein niệu. Khi có quá nhiều lượng prôtêin trong nước tiểu của bạn, que thử sẽ hiển thị dương tính (1+ hoặc lớn hơn). Xét nghiệm này nên được xác nhận lại bằng một xét nghiệm có sử dụng que thử chuyên biệt hơn (que thử albumin đặc trưng) hoặc tìm lượng prôtêin cụ thể trong nước tiểu bằng phương pháp lấy tỷ lệ albumin-và-creatinine.

Xét nghiệm hệ số thanh thải của Creatinine

Xét nghiệm thanh thải creatinin so sánh creatinine trong mẫu nước tiểu với độ creatinin trong máu của bạn. Xét nghiệm này dùng để tính ra thể tích máu được lọc sạch creatinin trong một đơn vị thời gian.

Xét nghiệm Microalbumin

Đây là một xét nghiệm bằng que thử rất nhạy cảm, nó có thể phát hiện một lượng cực kỳ nhỏ protein gọi là albumin trong nước tiểu. Những người có nguy cơ cao mắc bệnh thận, chẳng hạn như những người có bệnh tiểu đường hoặc huyết áp cao, nên làm xét nghiệm này nếu xét nghiệm que thử ban đầu của họ cho protein niệu là âm. Nếu phát hiện sớm có Microalbumin trong nước tiểu và can thiệp kịp thời ( kiểm soát đường huyêt và huyết áp) thì có thể làm chậm quá trình dẫn đên suy thận.

β2 – microglobulin ( β – M)

Xét nghiệm định lương β – M huyết thanh giúp đánh giá chức năng ống thận ở bệnh nhân ghép thận, tăng β – M chứng tỏ có sự thải ghép. Do vậy chỉ số này được coi là dấu ấn có giá trị để đánh gía sự thải ghép, xét nghiệm này không phụ thuộc vào chế độ ăn và khối lượng cơ vì vậy có gía trị hơn xét nghiệm creatinin.

Myoglobin

Myoglobin là protein có trọng lượng phân tử nhỏ, việc chẩn đoán và điều trị sớm sự tăng myoglobin huyết thanh có thể giúp phòng và giảm mức độ trầm trọng của suy thận. Độ thanh thải của myoglobin là một dấu ấn có giá trị giúp chẩn đoán sớm suy thận do nguyên nhân myoglobin. Myoglobin nước tiểu và huyết thanh được định lượng nhanh nhờ kỹ thuật miễn dịch. Myoglobin nước tiểu có thể được xác định bằng que thử sau khi lợi bỏ hemoglobin, tuy nhiên độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm này không cao.