Top 10 # Xét Nghiệm Chức Năng Tụy Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Các Xét Nghiệm Chẩn Đoán Viêm Tụy Mạn Tính

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Đỗ Thị Hoàng Hà – Bác sĩ Hóa sinh – Khoa Xét nghiệm – Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng.

Viêm tụy mãn tính là một quá trình bệnh lý có tính liên tục kéo dài, tuyến tụy bị tổn thương đưa đến phá hủy nhu mô tụy hoặc ống tụy và được thay bằng mô xơ dẫn đến chức năng tụy bị suy giảm. Việc chẩn đoán viêm tụy mạn tính giúp điều trị và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh.

1. Những ai thường mắc phải bệnh viêm tụy mạn tính?

Bệnh viêm tụy mạn tính là bệnh hiếm gặp và không có khả năng lây nhiễm. Bệnh gặp ở cả nam và nữ, nhưng nam giới thường có nguy cơ mắc bệnh cao hơn nữ giới.

Một số nguyên nhân khác có thể dẫn tới viêm tụy mạn như: tắc mật do sỏi hoặc u, rối loạn di truyền (rối loạn chuyển hóa thiếu hụt α1-antitrypsin) , tăng calci hoặc lipid máu, viêm tụy mãn tính tự miễn.

Đa số các trường hợp bệnh nhân đau vùng thượng vị theo nhiều mức độ và theo đợt ngắn ngày, thậm chí có trường hợp không đau nên dễ điều trị nhầm với bệnh lý dạ dày. Đau tăng lên khi ăn uống và lan ra sau lưng, tụy mất dần chức năng bài tiết enzyme tiêu hóa thức ăn.

Ngoài ra, bệnh nhân có biểu hiện buồn nôn, nôn, sụt cân, tiêu chảy, đi ngoài phân mỡ do thiếu men tụy. Tình trạng sụt cân xảy ra cả ở những bệnh nhân không hề thay đổi cảm giác thèm ăn hay thói quen ăn uống.

2. Phương pháp chẩn đoán bệnh viêm tụy mạn

Việc chẩn đoán viêm tụy mạn giúp điều trị và ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm đến sức khỏe của người bệnh. Các phương pháp chẩn đoán viêm tụy mạn tính được sử dụng hiện nay gồm:

2.1. Chẩn đoán lâm sàng

Đau bụng vùng thượng vị lan ra sau lưng là triệu chứng thường gặp. Đau ở nhiều mức độ; thường đau nhiều và tăng lên khi ăn, do vậy phần nào làm bệnh nhân sợ không dám ăn nhiều làm bệnh cảnh suy kiệt nặng lên.

Rối loạn tiêu hóa thường gặp: phân lỏng có váng mỡ, số lượng nhiều.

Suy dinh dưỡng: Gầy, sút cân nhanh, giai đoạn muộn có thể xuất hiện phù chi, tràn dịch các màng do hội chứng kém hấp thu.

Đái tháo đường (khi tụy xơ hóa hơn 85%)

Dấu hiệu xâm lấn đè đẩy vào tá tràng và các tạng lân cận dẫn đến các triệu chứng: nôn và buồn nôn, hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa, vàng da tắc mật.

Khám bụng: có thể sờ thấy khối u trên rốn có thể do xuất hiện nang giả tụy, tụy to.

2.2. Xét nghiệm cận lâm sàng

Thăm dò chức năng tụy ngoại tiết bị rối loạn, một số trường hợp có cả rối loạn chức năng nội tiết.

Các xét nghiệm sinh hóa đánh giá chức năng ngoại tiết của tụy.

+ Secretin_Cholecystokinin test

+ Cholesteryl_(C13) Octanoate breath test

+ Faecal Elastase test, Faecal Chymotrypsin ….

Xét nghiệm máu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng; protid huyết thanh thường giảm, đặc biệt albumin huyết thanh.

Các xét nghiệm khảo sát sự dò enzyme ra máu do mô tụy viêm, cũng như xem xét khả năng còn sản xuất được enzyme của nó, nếu tụy bị xơ hóa nhiều thì amylase và lipase không tăng. Xét nghiệm calci máu thường giảm, có rối loạn mỡ máu (cholesterol và triglyceride thường tăng), cũng như sự ảnh hưởng đến đường huyết (Glucose máu và HbA1c tăng, thường kèm ĐTĐ tuyp I).

Xét nghiệm phân: đánh giá mức độ nhầy mỡ của phân.

2.3. Chẩn đoán hình ảnh

Chụp X-quang, siêu âm hay chụp cắt lớp vi tính, chụp MRI để cung cấp phương tiện đánh giá tình trạng cấu trúc tụy, ống tụy và các mô xung quanh để chẩn đoán viêm tụy mạn tính.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là cơ sở uy tín mà bệnh nhân có thể tin tưởng tìm để khám chữa các bệnh lý ở tụy. Vinmec với đầy đủ trang thiết bị công nghệ hiện đại, kỹ thuật thăm khám và chẩn đoán tiên tiến, luôn cập nhật các tiến bộ mới nhất trong y khoa, đặc biệt trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm của y bác sĩ sẽ giúp chẩn đoán viêm tụy mạn một cách chính xác, từ đó đưa ra những tư vấn điều trị cụ thể cho từng trường hợp để đạt hiệu quả cao nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Xét Nghiệm Chức Năng Gan

Xét nghiệm chức năng gan là công cụ đặc biệt hữu ích. Nó giúp xác định tình trạng hoạt động của gan bằng cách đo nồng độ protein, men gan, hoặc bilirubin trong máu.

Kết quả xét nghiệm chức năng gan bất thường không có nghĩa là mắc bệnh gan hoặc tổn thương gan. Kết quả có thể cao bất thường mà nguyên nhân không do gan.

2. Xét nghiệm tổn thương gan: AST và ALT.

Một số xét nghiệm chức năng gan thông thường bao gồm:

3. Các xét nghiệm thường gặp khác

Các bạn có thể muốn tìm hiểu thêm:

Xét nghiệm chỉ số Alkaline phosphatase (ALP): ALP là một loại enzyme được tìm thấy trong xương, ống dẫn mật và gan. Xét nghiệm ALP thường được thực hiện chung với một số xét nghiệm khác. Hàm lượng ALP cao có thể do tổn thương gan, tắc nghẽn ống dẫn mật hoặc bệnh về xương. Trẻ em và thanh thiếu niên có thể có mức ALP cao hơn vì xương của chúng đang phát triển. Mang thai cũng có thể làm tăng nồng độ ALP. Chỉ số ALP bình thường là 45-115 (U/L).

Xét nghiệm chỉ số Albumin: Albumin là loại protein chính do gan sản xuất. Albumin thực hiện nhiều chức năng cơ thể quan trọng. Xét nghiệm albumin giúp đánh giá khả năng gan tạo ra loại protein này. Kết quả albumin máu thấp chỉ tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng kém và có thể bất thường chức năng gan. Chỉ số albumin máu bình thường là 3,5-5,0 (g/dL).

Xét nghiệm chỉ số Bilirubin: Bilirubin là sản phẩm thải từ sự phân hủy của các hồng cầu già. Billirubin thường được xử lý tại gan trước khi được bài tiết qua phân. Khi gan bị tổn thương, không thể xử lý bilirubin tốt, dẫn đến nồng độ bilirubin cao trong máu. Chỉ số bình thường của bilirubin là 0,1-1,2 (mg/dL).

Xét nghiệm thời gian đông máu: Gan sản xuất các protein cần thiết cho quá trình đông máu. Khi gan bị rối loạn chức năng không thể sản xuất đầy đủ các loại protein, làm cho quá trình đông máu chậm lại. Do đó kiểm tra thời gian đông máu có thể được sử dụng như một dấu hiệu đánh giá mức độ nghiêm trọng của các rối loạn chức năng gan nhất định

4. Tại sao cần làm xét nghiệm chức năng gan?

Khi gan gặp các vấn đề bất thường, dẫn tới hoạt động chức năng của gan bị suy giảm, ảnh hưởng đến sức khỏe và thậm chí có thể đe dọa tính mạng

5. Khi nào làm xét nghiệm chức năng gan?

Loại bỏ chất độc, vi khuẩn khỏi máu.

Chuyển đổi chất dinh dưỡng từ thực phẩm ăn vào.

Lưu trữ khoáng chất và vitamin.

Tạo các yếu tố đông máu.

Sản xuất protein, enzyme và mật.

Tạo ra các yếu tố chống nhiễm trùng….

Xét nghiệm chức năng gan thường được đề nghị trong các tình huống sau đây:

6. Những triệu chứng của bệnh lý về gan?

Những triệu chứng bệnh ở gan thường gặp:

sàng lọc các trường hợp viêm gan siêu vi như viêm gan C

theo dõi tác dụng phụ của một số loại thuốc có thể ảnh hưởng đến gan

theo dõi diễn tiến bệnh và đáp ứng với điều trị trong trường hợp người đang mắc bệnh về gan

đánh giá mức độ xơ hóa gan

trường hợp người bệnh xuất hiện các triệu chứng về bệnh gan

phụ nữ dự định mang thai

chán ăn

buồn nôn, nôn

mệt mỏi, đau khớp

đau bụng, đau tức hạ sườn phải

vàng da

nước tiểu sậm màu

phân bạc màu, trắng như phân cò

ngứa da

Hoặc có thể gọi ngay số điện thoại sau để được tư vấn trực tiếp.

7. Chuẩn bị gì trước một xét nghiệm chức năng gan?

Một số loại thuốc và thực phẩm có thể ảnh hưởng đến nồng độ của các loại enzyme và protein trong máu. Để tránh các sai lệch, khi đi xét nghiệm chức năng gan cần lưu ý:

Không nên uống thuốc: các loại kháng sin , thuốc điều trị lao, tâm thần…

Nhịn ăn: có những xét nghiệm chỉ cho kết quả chính xác khi người bệnh nhịn đói 4 – 6 giờ trước khi làm xét nghiệm hoặc không ăn sáng sau một đêm ngủ dậy.

Tránh rượu bia, thuốc lá: người làm xét nghiệm cần tránh sử dụng các chất kích thích (thuốc lá, cà phê…) vài giờ trước khi lấy máu

Một Vài Nhận Xét Vai Trò Của Xét Nghiệm Enzym Tụy Nhân Một Trường Hợp Viêm Tụy Hoại Tử

Một vài nhận xét vai trò của xét nghiệm Enzym tụy nhân một trường hợp viêm tụy hoại tử

                                                                        TS.Bs. Trịnh Quốc Đạt  

 Ths.Bs. Tạ Thanh Chiến

I. TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN

1.1 Diễn biến bệnh

       Bệnh nhân nam 59 tuổi được chuyển từ bệnh viện Đa khoa huyện Thạch Thành lên bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá với chẩn đoán viêm túi mật do sỏi và chưa được điều trị gì. Bệnh nhân vào viện với tình trạng tỉnh táo, da niêm mạc vàng nhẹ, đau toàn ổ bụng, bụng chướng, phản ứng thành bụng dương tính, nhiệt độ 37.6, mạch 83 lần/phút, huyết áp 120/70 mmHg.

       Siêu âm: Sỏi bùn mật, dày thành túi mật. Tuỵ khó quan sát do vùng thượng vị có nhiều hơi, ổ bụng có dịch góc Morison 8 mm và 16 mm ở hạ vị.

       Xét nghiệm hoá sinh máu ngay khi nhập viện có kết quả.

Bảng 1. Kết quả xét nghiệm hoá sinh lần 1 (trước phẫu thuật)

Xét nghiệm hoá sinh

Kết quả

Khoảng tham chiếu

Amylase

28 U/L

28 – 100

Lipase

39.1 U/L

13 – 60

Billirubin TP

48 µmol/L

0 – 17

Billirubin TT

41 µmol/L

0 – 4.3

ASAT

48.6 U/L

0 – 37

ASAT

38.7 U/L

0 – 40

Protein TP

53 g/L

65 – 82

Albumin

21 g/L

35 – 50

       Với các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như trên bệnh nhân được hội chẩn với kết luận là viêm phúc mạc, viêm hoại tử túi mật do sỏi. Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật cấp cứu.

1.2 Tường trình phẫu thuật

       Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, vào ổ bụng theo đường trắng giữa, ổ bụng có nhiều dịch rỉ viêm, nhiều giả mạc, tiến hành hút dịch, kiểm tra ổ bụng thấy túi mật viêm và có nhiều sỏi trong lòng. Ngoài ra, còn thấy viêm hoại tử tuỵ và hoại tử các tổ chức mỡ bao quanh tuỵ. Tiến hành cắt túi mật, làm sạch giả mạc, lau rửa ổ bụng đặt 03 dẫn lưu dưới gan, cùng đồ và hố lách, sau đó đóng thành bụng.

Tổ chức tuỵ hoại tử

              

Hình ảnh phẫu trường khi bộc lộ được tổ chức tuỵ của bệnh nhân

1.3 Diễn biến sau phẫu thuật

     Bệnh nhân chuyển hậu phẫu, những giờ sau phẫu thuật diễn biến tốt. bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm lại các enzym tuỵ.

Bảng 2. Kết quả xét nghiệm sau khi phẫu thuật

Xét nghiệm hoá sinh

Kết quả

Khoảng tham chiếu

Amylase

46 U/L

28 – 100

Lipase

88 U/L

13 – 60

Protein TP

50 g/L

65 – 82

Albumin

21 g/L

35 – 50

     Bệnh nhân được chuyển về khoa Gan Mật sáng ngày hôm sau. Những ngày sau đó tình trạng bệnh nhân tiến triển tốt. Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính cho thấy vùng hoại tử thu hẹp và hồi phục rất tốt. Siêu âm lại ổ bụng thấy dịch đã hết. Bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm lại enzym tuỵ.

Bảng 3. Kết quả xét nghiệm 5 ngày sau phẫu thuật

Xét nghiệm hoá sinh

Kết quả

Khoảng tham chiếu

Amylase

103 U/L

28 – 100

Lipase

152.7 U/L

13 – 60

Albumin

26 g/L

35 – 50

ASAT

24 U/L

0 – 37

ASAT

10.9 U/L

0 – 40

1.4 Nhận xét

       Đây là một bệnh nhân viêm tuỵ hoại tử do sỏi túi mật. Một bệnh cảnh thường thấy trên lâm sàng. Tuy nhiên điều bất thường ở bệnh nhân này là xét nghiệm enzym amylase và lipase không tăng trong suốt quá trình trước và sau phẫu thuật. Giải thích nào cho trường hợp này?

II. CƠ CHẾ BỆNH SINH VIÊM TUỴ HOẠI TỬ

       Viêm tuỵ hoại tử là một tiến trình tự huỷ mô tuỵ do chính enzym tuỵ. Bình thường tuyến tuỵ ngoại tiết sản xuất ra các enzym amylase, lipase, proteases, trysin, chymotrypsin … Các enzym này góp phần tạo nên dịch tuỵ, sau đó theo ống wirsung chảy vào khúc hai tá tràng qua bóng vater, để tiêu hoá thức ăn. Amylase thuỷ phân tinh bột, lipase phân cắt lipid, còn lại là các enzym phân cắt các liên kết peptid để tiêu hoá potein… Trong bệnh cảnh viêm hoại tử các ezym này trở lại tiêu huỷ chính mô tuỵ do đã được hoạt hoá ngay trong tuỵ.

     Tuy nhiên, tuyến tuỵ luôn có thể tự bảo vệ qua các cơ chế:

      – Bài tiết các enzym dưới dạng chưa hoạt động (tiền men). Các men này chỉ có tác dụng sau khi được hoạt hoá ở tá tràng. Các chất tiền men là trypsinogen, chymotrypsinogen, kallikreinogen, procarboxypeptidase, prophospholipase, proelastase, prolipase… Đầu tiên trypsinogen được hoạt hoá ở tá tràng dưới tác dụng của men enterokinase, sau khi hoạt hoá trypsin lại hoạt hoá các enzym còn lại.

     – Ngoài ra, tuỵ còn tiết ra các chất kháng men là antitrypsin ( SPINK1) và antilipase đế  ức chế tác dụng của các men trypsin và lipase trong mô tuỵ.

     Nhưng khả năng ức chế này có giới hạn, nên khi trypsin và lipase được hoạt hoá ngay trong mô tuỵ quá nhiều thì hiện tượng phá huỷ mô tuỵ vẫn diễn ra gây viêm tuỵ cấp và hoại tử tuỵ. Cơ chế hoạt hoá các enzym tuỵ ngay trong mô tuỵ được giải thích do sự tăng nhạy cảm đáp ứng của các tế bào nang tuyến tụy với cholecystokinin, acetylcholine do ethanol, do acid …, Khi trypsin đã được thành lập thì trypsin sẽ hoạt hoá các men còn lại của dịch tuỵ gây tổn thương mô tụy.

      Các yếu tố thuận lợi cho sự khởi phát viêm tuỵ cấp là.

        - Tình trạng tắc ngẽn ống dẫn chung hoặc tắc cơ vòng Oddi do sỏi hoặc giun đũa hoặc lúc cao điểm của hoạt động tiêu hoá (sau bữa ăn)  

        - Tình trạng dập nát mô tụy do chấn thương từ bên ngoài hoặc do phẫu thuật.

        – Tình trạng rối loạn vận mạch do viêm tắc tĩnh mạch, do dị ứng làm co thắt các mạch máu nhỏ kéo dài gây nhồi máu ở mô tuỵ dẫn đến thiếu oxy và làm tổn thương các tế bào đưa đến việc giải phóng các men tế bào. Các men tế bào sẽ hoạt hoá trypsinogen ngay trong mô tuỵ và gây viêm tuỵ cấp. 

     Các diễn tiến tiếp theo như sau: Tổn thương đầu tiên là viêm tuỵ cấp phù mô kẽ với 85 – 90% ca sẽ hồi phục hoàn toàn. Khoảng 10 – 15% ca sẽ diễn tiến nặng với các tổn thương hoại tử mỡ hoặc hoại tử xuất huyết và huỷ mô tuỵ. Các enzym tuỵ xâm nhập vào xoang bụng gây tiết dịch hoặc xuất huyết ổ bụng. Enzym tuỵ cũng vào hệ tuần hoàn và hoạt hoá các kinin hoặc qua hệ tuần hoàn đến các cơ quan xa như phổi, thận, gan .. gây tổn thương và suy chức năng của các cơ quan này. Các tổn thương hoại tử, xuất huyết ở tuỵ và các cơ quan sẽ dẫn đến các biến chứng như sốc, áp xe tuỵ, nang giả tuỵ, viêm phúc mạc, suy hô hấp cấp, suy thận cấp…

III. CÁC XÉT NGHIỆM ENZYM TUỴ

         Amylase và lipase là hai xét nghiệm được dùng phổ biến trong chẩn đoán viêm tuỵ.  Amylase là enzym thuỷ phân tinh bột trong thức ăn để tạo thành các đường đơn. Có hai loại S-amlase do tuyến nước bọt tiết ra (60%) và P-amylase do tuyến tuỵ tiết ra (40%). Ngoài ra còn ở một số cơ quan khác cũng sản xuất nhưng số lượng ít. Lipase được sản xuất chủ yếu ở tuỵ, có nhiệm vụ phân cắt các chất béo.

        Bình thường hai enzym này theo dịch tuỵ xuống ruột để tiêu hoá thức ăn và một phần sẽ được tái hấp thu qua ruột vào máu, sau đó đào thải qua nước tiểu. Nên bình thường vẫn có một lượng nhất định amylase và lipase được xác định hoạt độ trong máu và trong nước tiểu. Thời gian bán huỷ nhanh nên xét nghiệm nước tiểu kéo dài hơn. Những trường hợp suy thận gây tăng do không đào thải được hai enzym này. Phúc mạc cũng hấy thu được hai enzym này nên một số trường hợp thủng dạ dày, viêm phúc mạc…cũng làm tăng hoạt độ các enzym này trong máu.

      Trong viêm tuỵ cấp hai enzym này không được đổ vào đường tiêu hoá (do tắc ngẽn) mà thấm vào các hệ thống mạch máu tại vị trí viêm của tuyến tuỵ do viêm phù nề, xung huyết và tình trạng hoại tử của mô tuỵ. Sau đó các enzym này trào vào hệ thống tuần hoàn chung của cơ thể gây tăng trên xét nghiệm hoá sinh. Tuy nhiên nếu tình trạng hoại tử lan rộng ra cả tuỵ thì các tế bào tuỵ ngoại tiết còn sống sẽ bị suy giảm nghiêm trọng và có thể không còn nữa, dẫn đến tuỵ ngoại tiết bị suy giảm chức năng sản xuất amylase và lipase. Hậu quả là hai xét nghiệm này tăng nhẹ rồi không tăng và thậm chí giảm sâu trong huyết thanh.

IV. KẾT LUẬN

       Viêm tuỵ hoại tử là một bệnh cảnh lâm sàng rất nặng nề trong đó vai trò của xét nghiệm enzym tuỵ không có giá trị tuyệt đối. Quan trọng nhất vẫn là lâm sàng và chụp cắt lớp vi tính để xác định vùng hoại tử cũng như theo dõi tiến triển của vùng hoại tử.

       Các viêm tuỵ hoại tử làm tăng cao amylase và lipase trong máu và nước tiểu. Tình trạng tăng có tương quan với mức độ của bệnh nhưng không chặt.

       Nhưng nếu hoại tử lan rộng và lan ra toàn bộ tuỵ sẽ gây nên tình trạng suỵ tuỵ, hay tuỵ không còn sản xuất được các enzym tiêu hoá nữa trong đó có amylase và lipase. Vậy nên thực tế lâm sàng có thể gặp viêm tuỵ hoại tử có tăng nhẹ, không tăng và có thể giảm sâu hai enzym này, tuỳ thuộc vào mức độ lan rộng của tình trạng hoại tử.

Tài liệu tham khảo

3. Micheal W. Cheng & Jamie S.Barkus: Acute Pancreatitis. In GI/Liver Secrets 3rdedition, 2007 Elservier Inc. p 331 – 341 .

4. Rupjyoti Talukdar & Santhi S. Vege: Recent Developments in Acute Pancreatitis.  Clinical Gastrenterl. & Hepatol .2009 ;7:S3 – S9 .

5. Vikesh K. Singh et al: Early Systemic Inflammatory Response Syndrome is associated with Severe Acute Pancreatitis. Clinical Gastroenterol & Hepatol. 2009;7: 1247 – 125.

6. Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn thị Hương: Các xét nghiêm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng. Nhà xuất bản y học, 2012; 26-30; 301-304.  

Các Xét Nghiệm Chức Năng Gan

Cùng với siêu âm gan, xét nghiệm chức năng gan là một trong những phương pháp kiểm tra, đánh giá sự hoạt động và trạng thái của tế bào gan. Bài viết sau sẽ giải đáp những thắc mắc về các chỉ số xét nghiệm, mục đích và những lưu ý khi làm các xét nghiệm này.

Xét Nghiệm Kiểm Tra Chức Năng Gan Là Gì?

Xét nghiệm chức năng gan hay còn gọi là sinh hóa gan, bản chất là một phương pháp giúp xác định sức khỏe của gan bằng cách đo nồng độ protein, enzyme do gan sản xuất (men gan), và nồng độ bilirubin trong máu. Có nhiều xét nghiệm để đánh giá chức năng gan. Các xét nghiệm phản ánh tình trạng khác nhau của mức độ tổn thương gan cùng chức năng gan.

Hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh về gan như: viêm gan B, viêm gan C, xơ gan, gan nhiễm mỡ,… đều có thể khiến tế bào gan bị tổn thương, chức năng gan suy giảm, do đó có thể dễ dàng đánh giá mức độ bệnh dựa trên các kết quả xét nghiệm chức năng gan.

Tại Sao Cần Làm Xét Nghiệm Chức Năng Gan?

Mục đích của việc làm xét nghiệm chức năng gan bao gồm:

Phát hiện sớm các bệnh lý về gan, tìm nguyên nhân gây bệnh từ đó giúp bệnh nhân điều trị sớm.

Theo dõi quá trình tiến triển của các bệnh lý về gan để đánh giá phác đồ điều trị đang áp dụng có phù hợp không.

Theo dõi tác dụng phụ của thuốc. Một số thuốc có độc tính trên gan nên cần phải theo dõi để điều chỉnh thuốc nếu cần.

Đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh, đặc biệt là xơ gan.

Kiểm tra sức khỏe định kỳ.

Các Đối Tượng Cần Làm Xét Nghiệm Chức Năng Gan?

Người sử dụng rượu bia, người có quan hệ tình dục không an toàn, phụ nữ mang thai, người chưa tiêm phòng viêm gan B, người béo phì, người đang dùng thuốc điều trị bệnh lý trong đó có thuốc làm tăng men gan, người sắp kết hôn, tiểu đường, máu nhiễm mỡ, người đang điều trị bệnh gan,… đều là những đối tượng có nguy cơ cao mắc các bệnh lý gan mật. Các đối tượng này đều nên làm các các xét nghiệm chức năng gan.

Các Chỉ Số Xét Nghiệm Chức Năng Gan?

Các chỉ số trong xét nghiệm chức năng gan thường được chia thành 3 nhóm chính:

Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc

Bilirubin huyết thanh: là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin (hem – chiếm 90%) và các enzyme có chứa hem. Có hai loại bilirubin là bilirubin gián tiếp và bilirubin trực tiếp. Bilirubin gián tiếp còn gọi là bilirubin tự do, tan trong mỡ, gắn với albumin – một loại protein huyết tương nên không lọc được qua cầu thận. Khi đến gan, bilirubin gián tiếp liên hợp với acid glucuronic thành bilirubin trực tiếp – còn gọi là bilirubin liên hợp, tan trong nước, bài tiết vào mật.

Bilirubin niệu: Chỉ hiện diện ở dạng bilirubin trực tiếp. Khi có bilirubin niệu chắc chắn có vấn đề về gan mật. Chỉ số này có thể phát hiện bằng que nhúng xét nghiệm nước tiểu thông thường.

Urobilinogen

Là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, tái hấp thu vào máu theo chu trình ruột – gan và bài tiết qua nước tiểu. Trong trường hợp tắc mật hoàn toàn, sẽ không có urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết (tăng sản xuất), xuất huyết tiêu hóa hoặc bệnh lý gan. Bình thường urobilinogen 0,2 – 1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

ALP là enzym thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là ở gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ít hơn. Bình thường ALP 25 – 85 U/L.

Xét nghiệm enzym ALP rất nhạy để phát hiện có tắc đường mật. Khi ALP tăng đơn thuần có thể là một dấu hiệu chỉ dẫn cho các bệnh gan do thâm nhiễm như ung thư, áp xe, u hạt, thoái hóa dạng bột. Sự tăng ALP do nguyên nhân ở gan thường đi kèm với sự tăng của men GGT và 5′-nucleotidase.

Đây là một ALP tương đối chuyên biệt cho gan, giúp xác định tình trạng tăng ALP là do gan hay do xương hoặc do các trạng thái sinh lý như trẻ em đang tuổi tăng trưởng hoặc phụ nữ có thai. Sự tăng 5NT có tương quan với mức tăng ALP. Bình thường 5NT 0,3 – 2,6 đơn vị Bodansky/dL.

GGT xúc tác sự chuyển nhóm g-glutamyl từ những peptid đến những acid amin khác và giữ vai trò vận chuyển acid amin. GGT được tìm thấy ở nồng độ cao trong ống mật. Đây là một xét nghiệm rất nhạy để đánh giá rối loạn chức năng bài tiết của gan nhưng không đặc hiệu do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.

Bình thường GGT # 30 U/L ở nữ và # 50 U/L ở nam.

Tăng GGT đơn thuần là tình trạng nghiện rượu mạn tính, tắc mật, sau uống một số thuốc gây cảm ứng enzym ở gan (acetaminophen, phenytoin) và một số trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu. GGT còn tăng trong nhiều tình huống khác như suy thận, nhồi máu cơ tim, viêm tụy cấp, đái tháo đường, cường giáp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

NH3 sinh ra do sự chuyển hóa protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đại tràng. Gan giữ nhiệm vụ khử độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận. Cơ vân cũng giữ vai trò khử độc NH3 bằng cách gắn với acid glutamic để tạo thành glutamin. Bình thường NH3 máu 5 – 69 mg/dL. NH3 tăng trong các bệnh gan cấp và mạn tính. Nồng độ NH3 trong máu động mạch chính xác hơn trong máu tĩnh mạch vì không bị ảnh hưởng của NH3 từ ruột.

Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan: AST, ALT, LDH, ferritin

Aspartate aminotransferase) và ALT (Alanine aminotransferase) là các enzyme chuyển hóa nhóm -NH2 của aspartate và alanine. Sự gia tăng nồng độ enzyme này trong máu phản ánh tình trạng tổn thương tế bào gan.

AST còn gọi là SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) có ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan, ngoài ra còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu, hồng cầu. AST cũng thường tăng trong các trường hợp nhồi máu cơ tim.

ALT còn gọi là SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase) hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan.

Trị số ALT, AST bình thường < 40 UI/l. AST và ALT ở nam cao hơn nữ, thay đổi theo độ tuổi, cân nặng.

+ AST, ALT tăng nhẹ (< 100 UI/l) trong viêm gan virus cấp nhẹ và bệnh gan mạn tính như xơ gan, viêm gan mạn, di căn gan, tắc mật.

Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng tổng hợp

Do khả năng dự trữ của gan rất lớn và thời gian bán hủy của albumin kéo dài (khoảng 3 tuần) nên lượng albumin máu chỉ giảm trong các bệnh gan mạn tính (xơ gan) hoặc khi tổn thương gan rất nặng.

Giảm albumin huyết thanh còn gặp trong suy dinh dưỡng hoặc bị mất albumin bất thường qua đường tiểu (hội chứng thận hư) hoặc qua đường tiêu hóa (viêm đại tràng mạn). Ở bệnh nhân bị vàng da sậm, albumin có thể bị giảm tương đối (giảm giả tạo) do bilirubin tăng cao gây cản trở việc định lượng albumin.

Tăng globulin gặp trong các trường hợp xơ gan, viêm gan tự miễn, xơ gan ứ mật nguyên phát.

TQ là một xét nghiệm khảo sát con đường đông máu ngoại sinh. Bình thường TQ 11 – 13 phút (tương ứng với 80 – 100% hàm lượng prothrombin). Để chuẩn hóa kết quả PT, người ta thường chuyển đổi thành INR (International Normalized Ratio), trị số bình thường của INR = 0,8 – 1,2.

Những Lưu Ý Khi Kiểm Tra Chức Năng Gan

Nên làm vào buổi sáng

Không ăn trước khi xét nghiệm: Khi làm các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan, cần phải nhịn ăn ít nhất từ 4-6 tiếng để kết quả được chính xác.

Không uống rượu bia thuốc lá: tất cả các chất kích thích có chứa nicotin hoặc đồ uống có cồn không tốt cho sức khỏe của bạn, đồng thời khiến các chỉ số kiểm tra bị sai lệch, do đó bạn cần ngưng sử dụng rượu bia thuốc lá ít nhất 4h trước khi tiến hành các xét nghiệm này.

Không sử dụng bất kỳ thuốc nào: Các loại thuốc kháng sinh, thuốc bổ, chữa bệnh, thực phẩm chức năng,… không được sử dụng trước khi làm xét nghiệm vì việc dùng thuốc sẽ làm ảnh hưởng tới kết quả các chỉ số trong xét nghiệm.

Giải Pháp Giúp Gan Khỏe Mạnh Và Hạn Chế Các Bệnh Lý Gan Mật

Có thể nói, chỉ số xét nghiệm chức năng gan là một thông số vô cùng quan trọng để đánh giá hoạt động của gan kể cả khi không có dấu hiệu nào của bệnh. Các chuyên gia y tế khuyên rằng, nếu có thể, hãy đi theo dõi sức khỏe bằng cách đi kiểm tra chức năng gan thường xuyên 6 tháng 1 lần, đặc biệt ở những người có nguy cơ cao mắc các bệnh gan để có thể phát hiện sớm và ngăn chặn những tiến triển của bệnh. Bên cạnh đó, để phòng ngừa các bệnh lý gan mật, đồng thời giúp lá gan khỏe mạnh hơn, việc nhất thiết bạn cần phải làm là:

Gan làm nhiệm vụ thải độc cho cơ thể. Nhưng khi các chất độc hại tích tụ trong thời gian dài, ngược lại, gan sẽ bị “nhiễm độc”.

Hạn chế sự tấn công của các tác nhân gây hại cho lá gan

Hàng ngày, lá gan phải giải quyết một khối lượng công việc vô cùng lớn và khối lượng này còn ngày một gia tăng cùng với các tác nhân gây hại. Để giảm nhẹ gánh nặng cho gan, việc mà bất kỳ ai cũng có thể thực hiện tốt, đó là hạn chế tối đa các tác nhân gây hại cho lá gan như:

Hạn chế uống rượu, bia

Chỉ sử dụng thuốc khi bị bệnh và có sự chỉ định của bác sĩ

Ăn uống những thực phẩm đảm bảo vệ sinh

Hạn chế tiếp xúc với máu và dịch tiết của người khác

Tiêm vắc xin phòng ngừa viêm gan virus…

Sử dụng các loại thảo dược tốt cho gan

Hiện nay có nhiều loại thảo dược đã được chứng minh về tác dụng bảo vệ gan, tăng cường chức năng gan và hỗ trợ điều trị một số bệnh lý. Có thể kể đến như Actiso, cây Kế sữa, Diệp hạ châu, Cà gai leo, Mật nhân… Trong đó, 2 loại thảo dược là Kế sữa và Actiso được cả Y học Phương Đông và Y học Phương Tây chú ý đến bởi những công dụng tuyệt vời của chúng với lá gan. Không chỉ giúp bổ gan, tăng cường chức năng gan mà còn giải độc gan, giảm bớt các triệu chứng do các về bệnh gan gây ra như mụn nhọt, mẩn ngứa, vàng da, men gan cao… hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý ở gan như viêm gan, gan nhiễm mỡ và xơ gan hiệu quả.

2 loại thảo dược này khi được kết hợp với nhau theo tỉ lệ thích hợp còn làm gia tăng vượt trội tác dụng của chúng với lá gan so với khi dùng riêng lẻ từng loại thảo dược, giúp giảm nhanh các triệu chứng bệnh gan và tăng cường chức năng gan.

Trên thực tế, thị trường có nhiều sản phẩm chứa riêng biệt các thành phần Kế sữa, Actiso nhưng lại rất ít sản phẩm được kết hợp từ 2 loại thảo dược này.

Một trong những sản phẩm hiếm hoi kết hợp Kế sữa và Actiso rất hiệu quả, lại có nguồn nguyên liệu nhập khẩu trực tiếp từ Châu Âu (Địa Trung Hải) và sản xuất tại nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP là Sily-GAN.

SILYGAN – Bổ gan, giải độc gan đến từ Châu Âu.

Việc chủ động sử dụng các thảo dược này khi có một vài dấu hiệu sớm của bệnh gan được đánh giá là một giải pháp an toàn, hiệu quả để bảo vệ gan và ngăn ngừa các bệnh lý ở gan tiến triển.