Top 7 # Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Bài Tiết Của Gan Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Các Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Gan

Gan là bộ phận quan trọng trong cơ thể con người, có nhiệm vụ thực hiện hơn 500 chức năng khác nhau. Khi gan bị tổn thương không chỉ gan bị ảnh hưởng mà các bộ phận khác trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng nghiệm trọng: chức năng đông máu giảm trong xơ gan, suy gan, tổn thương não trong bệnh não gan…

Virus viêm gan B, virus viêm C là nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan, ung thư gan;

Do rượu, bia, do thuốc, hóa chất…đặc biệt các trường hợp ngộ độc cấp do thuốc, hóa chất;

Do bệnh mạn tính như: lao lupud ban đỏ, ung thư…

Xét nghiệm đo nồng độ enzyme AST, ALT

ALT (Alanine Transaminase) tham gia vào quá trình chuyển hóa protein trong cơ thể. Khi tế bào gan tổn thương, ALT sẽ giải phóng vào trong máu. Nồng độ ALT tăng trong máu có thể là dấu hiệu của thương tổn tế bào gan. Giá trị bình thường của ALT trong máu < 40 U/L. Giảm nồng độ ALT không đánh giá nên bệnh lý nào.

AST (Aspartate Transaminase) là một enzyme tìm thấy ở nhiều cơ quan như tim, gan, cơ. Vì vậy, khi AST tăng trong máu, sẽ không phân biệt là tổn tương tại gan, tim hay cơ. AST thường được thực hiên cùng ALT, tỷ lệ ALT/AST cung cấp nhiều thông tin hữu ích trong chẩn đoán. Giá trị bình thường AST trong máu < 37U/L. Giảm nồng độ AST không đánh giá nên bệnh lý nào.

Xét nghiệm đo nồng độ ALP

ALP (Alkaline phosphatase) là một enzyme trong xương, ống mật và gan. Nồng độ ALP tăng trong máu gặp trong các tổn thương gan, tắc ống dẫn mật, các bệnh lý về xương.

Trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên có nồng độ ALP cao hơn người trưởng thành vì sự phát triển xương ở lứa tuổi này đang diễn ra mạnh mẽ. Phụ nữ mang thai cũng có nồng độ ALP ở mức cao hơn bình thường. Giá trị bình thường ALP trong máu là 45-115 U/L

Giảm nồng độ ALP gặp trong truyền máu, phẫu thuật tim, thiếu kẽm, suy dinh dưỡng, bệnh Wilson.

Xét nghiệm định lượng Albumin Albumin là một protein quan trọng do gan tổng hợp. Các chức năng của Albumin bao gồm:

Tạo áp lực keo huyết tương, ngăn cản nước thoát ra khỏi mạch máu

Cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể

Vận chuyển hormone, vitamin và một số các chất khác trong máu Khi nồng độ Albumin máu giảm, cho thấy gan đã giảm khả năng sản xuất Albumin. Giá trị bình thường của Albumin trong máu là 35-50 g/L.

Xét nghiệm định lượng Bilirubin

Bilirubin là sản phẩm thoái hóa các hồng cầu già cỗi, một chất độc đối với cơ thể. Trước khi được đào thải ra ngoài, bilirubin được khử độc bởi gan thông qua quá trình liên hợp với acid glucuronic. Khi gan tổn thương, quá trình khử độc này suy giảm, khiến bilirubin tăng lên trong máu. Giá trị bình thường của Bilirubin toàn phần trong máu là < 17 µmol/L.

Tại sao cần thực hiện các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan?

Các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan giúp đánh giá toàn diện các chức năng gan, bao gồm:

Loại bỏ các chất độc hại ra khỏi cơ thể

Tham gia hấp thu, chuyển hóa các chất dinh dưỡng

Kho dự trữ vitamin và chất khoáng

Sản xuất các yếu tố tham gia quá trình đông máu, cầm máu

Tổng hợp protein, enzyme, mật

Sản xuất các yếu tố kháng viêm và loại bỏ vi khuẩn

Sản xuất các hormone

Các triệu chứng của rối loạn chức năng gan là gì? Các triệu chứng của rối loạn chức năng gan, bao gồm:

Nếu bạn có các triệu chứng trên, bác sỹ có thể đề nghị bạn thực hiện các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan. Ngoài ra, các xét nghiệm này cũng dùng để kiểm tra sức khỏe trước khi bạn muốn mang thai hoặc theo dõi các nhiễm trùng, theo dõi sự tiến triển của bệnh và ảnh hưởng của một số thuốc tới gan.

Chuẩn bị trước khi thực hiện xét nghiệm

Một số thuốc hoặc thực phẩm bạn đang sử dụng có thể làm sai lệch kết quả xét nghiệm, vì vậy cần nói với bác sỹ bất kỳ loại thuốc nào mà bạn đang dùng. Trước khi thực hiện xét nghiệm, bạn cũng không nên ăn uống (có thể uống nước lọc) trong khoảng thời gian 8-10 tiếng.

Kết quả xét nghiệm được bác sỹ sử dụng như thế nào?

Thông thường, kết quả xét nghiệm sẽ chỉ ra gan của bạn có thực hiện đầy đủ chức năng không. Nếu kết quả bất thường, bác sỹ sẽ dựa vào đó để đánh giá tình trạng hiện tại của bạn, tuy nhiên có thể không giúp nhận định chính xác cấp độ tổn thương gan. Nhưng thông qua đó, bác sỹ có thể đề nghị bạn thực hiện thêm các xét nghiệm khác để chẩn đoán xác định tình trạng bệnh.

Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Của Gan Và Thận

Gan và thận là hai trung tâm tái tạo và bài tiết lớn nhất của cơ thể, giữa hai cơ quan này có mối quan hệ mật thiết với nhau chính vì vậy khi một bộ phận bị tổn thương thì bộ phận kia cũng sẽ bị ảnh hưởng, việc xét nghiệm chức năng gan và thân sẽ giúp phát hiện sớm bệnh qua đó có phương hướng điều trị kịp thời.

Thông thường các độc tố trong cơ thể sẽ được giải độc khi đi qua gan sau đó được thận bài tiết ra ngoài cơ thể, khi gan họa động thì thận nghỉ ngơi và ngược lại vậy nên có thể thấy giữa 2 cơ quan nội tạng này có mối quan hệ hỗ trợ nhau để cùng thực hiện chức năng thải độc và tạo dưỡng chất cần thiết cho cơ thể.

Khi một trong 2 bộ phận bị tổn thương thì bộ phận kia cũng sẽ bị ảnh hưởng theo, những người bị bệnh gan thì các protein trong cơ thể bị phá hoại và phân giải, các chất bị phân giải sẽ cản trở đến chức năng của thận, phá hoại cầu thận gây nên các bệnh lý về thận. Chính vì những điều này, các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cũng sẽ phần nào biết được tình hình của thận.

Xét nghiệm đánh giá chức năng của gan và thận

Ammoniac là một sản phẩm thải được hình thành chủ yếu từ quá trình thoái giáng nitrogen trong gan qua chu trình urea và từ quá trình tiêu hóa máu có trong đường tiêu hóa (Vd: trong chảy máu đường tiêu hóa). Helicobacter pylori trong dạ dày dường như là một nguồn tạo amoniac quan trọng ở các bệnh nhân bị xơ gan. Một nguồn sản xuất ammoniac quan trọng khác là từ sự sinh tổng hợp và chuyển đổi của glutamin bởi các ống thận, lúc này ammoniac ở thận có vai trò như một chất đệm quan trọng.

Trong điều kiện bình thường, ammoniac được chuyển đổi thành urê tại gan và sau đó được thận bài xuất. Nếu một rối loạn thực thể ngăn không cho quá trình chuyển đổi nói trên xảy ra, ammoniac sẽ tích tụ trong dòng tuần hoàn. Khi tích tụ trong máu tới một nồng độ gây độc, ammoniac sẽ gây ra một tình trạng não gan, những bệnh nhân bệnh gan nặng thường bị teo cơ do phá hủy cũng góp phần làm cho NH3 tăng cao.

Thông qua việc xét nghiệm nồng độ NH3 trong máu, các bác sĩ có thể xác định liệu tình trạng rối loạn chức năng năng gan thận đồng thời xét nghiệm cũng có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả của điều trị đối với bệnh gan thận.

Xét nghiệm men gan cũng là một cách để đánh giá chức năng của gan và thận, các loại men gan thường được dùng để xét nghiệm là:

+ AST và ALT: Hiện diện trong bào tương và ty thể của tế bào. AST hiện diện ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan. Ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. ở người bình thường chỉ số AST < 40 UI/L

+ GGT (Gamma glutamyl transferase): GGT là enzym màng tế bào, có nhiều ở thận, tụy, gan, lách, ruột non. Hoạt độ GGT ở tế bào ống thận lớn gấp 12 lần ở tụy, 25 lần ở gan, và có ở huyết tương.

Khi các chỉ số men gan này tăng hơn bình thường 2-3 lần chứng tỏ lúc này các tế bào của gan và thận đều đã bị tổn thương.

Albumin là một trong hai thành phần chính của protein huyết thanh (albumin, globulin). Bình thường, albumin huyết thanh có khoảng 35 – 50 g/l, chiếm 50 – 60% protein toàn phần huyết thanh.

Albumin giảm mạnh trong viêm cầu thận cấp do nhiều nguyên nhân khác nhau đặc biệt giảm trong thận hư nhiễm mỡ. Trong hội chứng thận hư, albumin giảm nhiều so với bình thường, chỉ còn khoảng 10 – 20 g/l.

Albumin huyết tương có ý nghĩa để đánh giá chức năng tổng hợp của gan. Khi một người bị suy gan nặng, xơ gan khi xét nghiệm sẽ thấy lượng albumin bị giảm hơn mức bình thường nhiều lần.

Xét nghiệm định lượng protein toàn phần có ý nghĩa để đánh giá chức năng tổng hợp của gan: như đã nói ở trên, khi gan bị tổn thương gây nên tình trạng gan bị viêm, xơ hóa, sẽ làm giảm tổng hợp albumin, từ đó làm giảm protein huyết tương, giảm áp lực thẩm thấu ảnh hưởng đến trao đổi nước, muối giữa huyết tương và dịch gian bào.

Xét nghiệm định lượng protein toàn phần có ý nghĩa để đánh giá chức năng lọc của thận: bình thường protein huyết tương có khối lượng phân tử lớn không qua được màng lọc cầu thận, nước tiểu không có protein, hay protein niệu. Khi màng lọc của thận bị tổn thương thì lượng protein sẽ tăng đặc biệt là ở các bệnh lý như: viêm cầu thận cấp tính và mạn tính, hội chứng thận hư, đặc biệt là thận hư nhiễm mỡ

Phosphatase kiềm (Alkaline phosphatase – ALP) là một loại enzyme được tìm thấy trong các mô khắp cơ thể, bao gồm cả gan, xương, thận, ruột, và trong nhau thai của những phụ nữ đang mang thai. Mỗi loại mô khác nhau sản xuất các dạng ALP khác nhau được gọi là isoenzymes. Cho nên bước kiểm tra này giúp góp phần đánh giá được tình hình gan thận của bệnh nhân.

Nước tiểu là sản phẩm bài tiết ra của gan thân, mục đích của xét nghiệm nước tiểu là tìm trong nước tiểu có vi khuẩn hay nồng độ các chất trong đó có gì bất thường khi thải ra không. Thông qua việc phân tích này giúp đánh giá được chức năng gan thận, ở người bình thường nước tiểu có màu trong hoặc vàng nhạt tuy nhiên khi gan bị tổn thương nước tiểu sẽ bị sẫm màu, cùng lúc nếu thận cũng phát bệnh thì sẽ xuất hiện hiện tượng đi tiểu ra máu, lượng nước tiểu giảm rõ rệt.

Để đánh giá được cụ thể tình trạng bệnh gan thận thì bệnh nhân sẽ được yêu cầu thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu hơn qua đó phát hiện sớm được bệnh tình.

Lưu ý trước khi đi làm xét nghiệm chức năng gan thận thì bệnh nhân tốt nhất nên nhịn ăn trước 1-2 tiếng để có kết quả chính xác. Hơn nữa là không nên uống rượu bia vì những chất có trong đồ uống cồn này gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Việc xét nghiệm nên được tiến hành ở các phòng khám chuyên về gan uy tin để có kết quả chính xác nhất. Để biết thêm thông tin chi tiết bạn đọc có thể liên hệ với phòng khám Hồng Phong để được các chuyên gia tư vấn tận tình.

Ý Nghĩa Của Xét Nghiệm Ast Trong Đánh Giá Chức Năng Gan

1. Thế nào là xét nghiệm AST?

AST là viết tắt của cụm từ Aspartate Transaminase, là một enzyme tham gia vào quá trình chuyển hóa Aspartate trong cơ thể. Bình thường nồng độ AST trong máu rất thấp và được duy trì ở mức ổn định. Trong nhiều trường hợp bệnh lý ở gan, tim, cơ xương, thận sẽ giải phóng AST vào máu, làm cho nồng độ AST trong máu tăng cao.

Xét nghiệm AST là một trong những xét nghiệm quan trọng giúp đánh giá chức năng gan, xác định nồng độ enzyme Aspartate Transaminase (AST) có trong máu để phát hiện các tổn thương hoặc bệnh lý tại gan. Xét nghiệm này có thể kết hợp với các xét nghiệm đánh giá chức năng gan khác, thường là xét nghiệm ALT để có thể đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe của gan. Tỷ lệ AST/ALT giúp xác định mức độ và các nguyên nhân gây tổn thương gan: do virus, rượu bia hay thuốc, độc chất.

Ngoài ra, xét nghiệm AST còn giúp theo dõi tình trạng sức khỏe bệnh nhân trong quá trình điều trị các bệnh về gan để sớm có điều chỉnh phù hợp.

Xét nghiệm AST là xét nghiệm quan trọng giúp đánh giá chức năng gan

2. Các giá trị bất thường của chỉ số AST

Chỉ số AST trong máu thường dao động và thay đổi tùy theo giới tính, độ tuổi hoặc bị ảnh hưởng bởi sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, chỉ số AST trong máu chỉ dao động đến một giới hạn nhất định, vượt quá giới hạn đó có thể là báo hiệu cho sự tổn thương bệnh lý tại gan.

Ở những người có gan hoạt động khỏe mạnh bình thường, chỉ số AST thường < 40 UI/L và được duy trì ổn định. Nếu chỉ số AST trong máu tăng cao thì bệnh nhân cần được lưu ý và tiến hành thêm nhiều xét nghiệm khác cần thiết để chẩn đoán và điều trị kịp thời, tránh để bệnh diễn biến nặng nguy hiểm đến tính mạng.

Các giá trị AST bất thường:

AST tăng nhẹ (chỉ số AST trong máu dưới 100 UI/L): Thường gặp trong các trường hợp viêm gan mạn tính, xơ gan, gan nhiễm mỡ, một số trường hợp vàng da tắc mật cũng làm chỉ số AST tăng lên ở mức nhẹ.

AST tăng vừa (chỉ số AST trong máu không vượt quá 300 UI/L): Thường gặp trong tổn thương gan do sử dụng quá nhiều rượu, bia.

AST tăng cao (chỉ số AST trong máu vượt quá 3000 UI/L): Thường gặp trong các trường hợp tổn thương, bệnh lý gây hoại tử tế bào gan (viêm gan do virus cấp hoặc mãn tính, trụy mạch kéo dài, gan bị tổn thương do hóa chất, thuốc độc,…).

3. Những ai cần thực hiện xét nghiệm AST?

Ngoài ra, nên chỉ định thực hiện xét nghiệm này cùng một số xét nghiệm đánh giá chức năng gan khác cho những đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh gan như:

Người nghiện rượu bia.

Đối tượng có tiền sử nhiễm virus viêm gan.

Có người thân trong gia đình đã từng mắc các bệnh về gan.

Đang sử dụng thuốc có ảnh hưởng không tốt đến gan.

Nếu bạn có các triệu chứng hoặc nằm trong các đối tượng đã nêu trên thì hãy gặp bác sĩ để thực hiện xét nghiệm AST. Thăm khám và xét nghiệm sớm có ý nghĩa lớn trong công tác chẩn đoán và đưa ra hướng điều trị hiệu quả.

Người mắc viêm gan virus có thể làm chỉ số AST tăng

4. Quy trình và những lưu ý khi làm xét nghiệm AST

Quy trình tiến hành xét nghiệm:

Bước 1: Bệnh nhân gặp bác sĩ và được thăm khám sơ bộ, trình bày về các triệu chứng mà mình gặp phải.

Bước 2: Lấy mẫu xét nghiệm. Sát trùng kỹ và lấy từ tĩnh mạch cánh tay một lượng máu vừa đủ. Mẫu máu được cho vào ống nghiệm không chứa chất chống đông hoặc có chất chống đông.

Bước 3: Đưa mẫu xét nghiệm vào máy phân tích và đưa ra kết quả.

Mẫu máu được đựng trong ống nghiệm để làm xét nghiệm AST

Những lưu ý khi đi xét nghiệm:

Bạn không cần phải nhịn ăn trước khi đi xét nghiệm.

Nên ngưng sử dụng rượu bia và các loại thuốc điều trị trước khi đi xét nghiệm khoảng vài ngày.

Sau khi lấy máu xong, bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, tránh thao tác mạnh hoặc mang vác, xách các vật nặng.

Kết quả xét nghiệm có thể bị ảnh hưởng nếu mẫu máu bị vỡ hồng cầu, huyết thanh đục hoặc do một số thuốc, sản phẩm làm ảnh hưởng đến hoạt độ của men AST.

Nên làm gì khi kết quả xét nghiệm cho chỉ số AST cao?

Xét nghiệm ALT (Alanine aminotransferase). Tương tự như AST, chỉ số ALT tăng cao khi gan bị tổn thương, trong một số trường hợp chỉ số ALT phản ánh chính xác tình trạng tổn thương hơn so với AST.

Xét nghiệm GGT (Gamma glutamyl transferase).

Xét nghiệm ALP (Alkaline phosphatase).

Xét nghiệm Albumin, Bilirubin, tiểu cầu, thời gian prothrombin (PT),…

Thuốc và một số thực phẩm có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm

5. Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC – địa chỉ xét nghiệm uy tín, chất lượng cho mọi nhà!

Khi thấy bản thân mình có những dấu hiệu bất thường, bất cứ ai cũng muốn tìm cho mình một cơ sở y tế tốt để thực hiện thăm khám. Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC là một trong những cơ sở uy tín để bạn yên tâm thực hiện các xét nghiệm y khoa, bao gồm xét nghiệm AST đảm bảo an toàn và độ chính xác cao. Ngoài ra, MEDLATEC còn có cung cấp dịch vụ xét nghiệm tại nhà vô cùng tiện ích, phù hợp với bối cảnh dịch Covid – 19 hiện nay.

Vì sao nên chọn MEDLATEC?

MEDLATEC hoạt động trên 24 năm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, bạn hoàn toàn có thể yên tâm về chất lượng và độ uy tín của MEDLATEC.

MEDLATEC có trung tâm xét nghiệm đạt chuẩn ISO 15189:2012 được trang bị đầy đủ máy móc thiết bị hiện đại.

MEDLATEC có đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế hoạt động giàu chuyên môn, kinh nghiệm và tâm huyết với nghề.

MEDLATEC liên kết với trên 30 đơn vị bảo hiểm hàng đầu Việt Nam và có chính sách bảo lãnh viện phí với nhiều loại bảo hiểm khác nhau.

Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Gan Gồm Những Gì?

1. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan là gì?

Xét nghiệm đánh giá chức năng gan là một trong những xét nghiệm sinh hóa cơ bản được chỉ định để đánh giá các chức năng khác nhau của gan. Khi người bệnh có dấu hiệu sút cân không rõ nguyên nhân, nghiện rượu, có các bệnh lý về gan: mệt mỏi, chán ăn, vàng da, da sạm, hay trong suốt quá trình theo dõi điều trị khi sử dụng thuốc cũng được chỉ định làm xét nghiệm này.

Ngoài ra, bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng như vàng da, buồn nôn, nôn liên tục là những dấu hiệu bất thường có thể bị bệnh gan, bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện xét nghiệm để đưa ra kết quả chính xác.

Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan được tiến hành bằng cách lấy máu tĩnh mạch. Nếu bệnh nhân đang trong quá trình sử dụng thuốc nào khác thì cần nêu rõ vì có thể sẽ làm thay đổi kết quả của xét nghiệm.

Thực hiện các xét nghiệm để đánh giá tình trạng của gan

2. Các trường hợp nên sử dụng xét nghiệm đánh giá chức năng gan

Có một số trường hợp khác cần sử dụng xét nghiệm đánh giá chức năng gan như:

– Kiểm tra tổn thương do virus gây viêm gan như virus viêm gan B, viêm gan C.

– Theo dõi tác dụng phụ của một số loại thuốc có ảnh hưởng đến gan.

– Bệnh túi mật.

– Những người uống nhiều rượu hay thậm chí có khả năng nghiện rượu.

– Người gặp các triệu chứng rối loạn chức năng gan.

– Tiền sử bệnh gan, theo dõi hiệu quả sau quá trình điều trị.

– Người bệnh bị tiểu đường, cao huyết áp hoặc thiếu máu.

Người nghiện rượu cần thực hiện các xét nghiệm đánh giá chức năng gan để biết mình có bệnh lý về gan hay không

3. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan gồm những gì?

Việc thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan có thể chia thành các nhóm như sau:

– Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan.

– Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc.

– Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng tổng hợp.

3.1 Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan

Transaminase hay aminotransferase là những enzym nội bào, chuyển nhóm g-amin (-NH2) của aspartat và alanin đến nhóm g-keto của ketoglutarat để tạo thành acid oxaloacetic và pyruvic. Sự tăng của các enzym này phản ánh tình trạng tổn thương tế bào gan.

– Alanin aminotransferase (ALT)

ALT hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan. Khi gan bị tổn thương, thực hiện xét nghiệm sẽ thấy nồng độ ALT tăng hơn mức bình thường. Bình thường ALT <40 UI/L.

– Aspartate aminotransferase (AST)

AST hiện diện trong tế bào tương và ty thể của tế bào. Ở cơ tim và cơ vân, AST hiện diện nhiều hơn so với ở gan. Ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, hồng cầu và bạch cầu. Bình thường AST <40 UI/L.

Ở người trưởng thành, nồng độ AST và ALT của nam cao hơn của nữ. Các men này được phóng thích vào máu khi có tổn thương màng tế bào làm tăng tính thấm. Tuy nhiên, sự tăng men gan không tương quan hoàn toàn với trình trạng hoại tử tế bào gan.

Các transaminase có thể tăng do các bệnh lý về gan. Ngoài ra còn tăng trong các bệnh nhồi máu cơ tim, tổn thương cơ vân, cường giáp, nhược giáp,… Ngược lại, enzym này bị giảm giả tạo có thể do tăng urê máu.

– Lactat dehydrogenase (LDH)

Đây là xét nghiệm không chuyên biệt cho gan bới nó có thể xuất hiện ở tim, cơ, thận, hồng cầu, bạch cầu,… Vì vậy nó có ít giá trị trong việc xác định các bệnh gan – mật. Nếu LDH tăng kéo dài, kèm theo tăng ALT có thể do tổn thương thâm nhiễm ác tính ở gan. Bình thường, LDH5 5-30 UI/L.

– Ferritin

Đây là một loại protein dự trữ sắt trong tế bào, được cấu tạo gồm apoferritin gắn với sắt.

Bình thường, ferritin ở nam là 30 – 400 ng/mL, và ở nữ là 15 -150 ng/mL.

Xét nghiệm đánh giá chức năng gan

3.2 Nhóm xét nghiệm đánh giá chức năng bài tiết và khử độc

– Bilirubin

+ Bilirubin huyết thanh

Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym. 95% bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu. Chúng tan trong mỡ, gắn kết với albumin huyết tương nên không được lọc qua cầu thận.

Bilirubin gồm 2 thành phần chính là bilirubin trực tiếp (TT) và gián tiếp (GT). Bình thường, bilirubin toàn phần TP là 0,8-1,2mg/dL; GT là 0,6-0,8mg/dL; TT là 0,2-0,4mg/dL.

+ Bilirubin niệu

Chỉ hiện diện ở dạng TT. Nếu có bilirubin niệu, có thể gan mật đang bị tổn thương.

– Urobilinogen

Là chuyển hóa của bilirubin tại ruột, được tái hấp thụ vào máu theo chu trình ruột – gan và sau đó được bài tiết qua nước tiểu.

Bình thường Urobilinogen 0,2-1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

– Phosphatase kiềm (ALP)

Men ALP rất nhạy để phát hiện tắc đường mật. Vì được tổng hợp để đáp ứng với tình trạng tắc mật, nên ALP có thể bình thường trong giai đoạn đầu của nhiễm khuẩn đường mật cấp tính.

Khi ALP tăng có thể là dấu hiệu của các bệnh gan như áp-xe, u hạt, thoái hóa dạng bột.

– 5′ Nucleotidase (5NT)

Đây là ALP chuyên biệt cho gan, giúp xác định tình trạng tăng do gan hay do xương hoặc các trạng thái sinh lý của trẻ em đang tuổi trưởng thành hoặc phụ nữ có thai. Bình thường 5NT 0,3-2,6 Bondasky/dL.

– G-glutamyl transferase, g-glutamyl transpeptidase (GGT, g-GT)

Mặc dù GGT hiện diện ở nhiều cơ quan khác nhau nhưng có nồng độ cao trong tế bào biểu mô trụ của ống mật. Đây là xét nghiệm rất nhạy để đánh giá chức năng bài tiết của gan nhưng không đặc hiệu do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Bình thường GGT <30U/L ở nữ và <50U/L ở nam.

– Amoniac máu (NH3)

NH3 được sản xuất từ chuyển hóa bình thường của protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đường ruột. Gan giữ nhiệm vụ giải độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận. Cơ vân cũng giữ vai trò khử độc NH3 bằng cách gắn acid glutamic để tạo thành glutamin. Vì vậy những bệnh nhân bị bệnh gan và teo cơ do phá hủy cũng làm NH3 tăng cao.

Bình thường NH3 máu 5-69 md/dL.

3.3 Nhóm xét nghiệm chức năng tổng hợp

– Protein máu

Phần lớn các protein được tổng hợp từ gan.

+ Albumin huyết thanh

Gan là nơi duy nhất tổng hợp albumin cho cơ thể. Do khả năng dự trữ của gan rất lớn và thời gian bán hủy của albumin kéo dài khoảng 3 tuần nên lượng albumin máu chỉ giảm khi mắc các bệnh gan mạn tính hoặc tổn thương gan rất nặng.

Bình thường albumin 35-55g/L.

+ Globulin huyết thanh

Được sản xuất từ nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, bao gồm nhiều loại protein vận chuyển các chất trong máu và các kháng thể tham gia hệ thống miễn dịch thể dịch.

Bình thường globulin 20 – 35g/L.

– Điện di protein huyết thanh

Khi bệnh nhân khi viêm gan mạn tính hoặc xơ gan, đặc biệt là xơ gan do rượu thì biểu đồ điện di có sự thay đổi, bằng các kiến thức chuyên môn, bác sĩ sẽ đưa ra kết luận chính xác.

– Thời gian Prothrombin (PT) hay thời gian Quick (TQ)

Là thời gian chuyển prothrombin thành thrombin khi có sự hiện diện của các yếu tố đông máu. TQ là xét nghiệm khảo sát con đường đông máu ngoại sinh.

Gan tổng hợp hầu hết các yếu tố đông máu như I, II, V, VII, IX, X và các yếu tố này có thời gian bán hủy ngắn. Sự tổng hợp các yếu tố đông máu cần có sự tham gia của vitamin K, ngoại trừ yếu tố V. Vì vậy người ta dùng yếu tố V để phân biệt chức năng gan suy yếu với tình trạng thiếu vitamin K.

3.4 Các xét nghiệm định lượng chức năng gan

Ngoài các xét nghiệm đánh giá chức năng gan như trên, người ta còn sử dụng thêm một số các xét nghiệm để khảo sát trước khi phẫu thuật cắt gan, ghép gan hoặc dùng trong nghiên cứu.

– Đo độ thanh lọc BSP (bromosulfonephtalein).

– Đo độ thanh lọc indocyanine green.

– Đo độ thanh lọc antipyrine.

– Test hơi thở aminopyrine.

– Đo độ thanh lọc caffeine.

– Đo khả năng thải trừ glactose.

4. Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC có thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng gan không?

MEDLATEC đã và đang có các gói xét nghiệm đánh giá chức năng gan. Khi khách hàng đến với MEDLATEC, dựa theo nhu cầu hoặc biểu hiện tình trạng bệnh mà các bác sĩ chuyên khoa sẽ chỉ định thực hiện một số xét nghiệm cần thiết.

Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC thực hiện hàng ngày các xét nghiệm đánh giá chức năng gan

Với đội ngũ y bác sĩ giỏi sẽ đưa ra cho quý khách hàng những thông tin chính xác về kết quả bệnh cũng như cách chăm sóc để cải thiện sức khỏe.

Cùng với trang thiết bị y tế hiện đại và hệ thống trang thiết bị đạt chuẩn quốc tế ISO 15189:2012 sẽ cho ra kết quả nhanh, chính xác nên mọi người không cần phải chờ đợi trong thời gian dài.