Top 8 # Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Tuyến Thượng Thận Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Nghiệm Pháp Synacthen Đánh Giá Chức Năng Tuyến Thượng Thận

Nghiệm pháp synacthen được dùng để kiểm tra chức năng của tuyến thượng thận. Nghiệm pháp này cung cấp thông tin về việc vùng dưới đồi, tuyến yên và tuyến thượng thận hoạt động với nhau như thế nào. Nghiệm pháp synacthen cũng được dùng để chẩn đoán bệnh Addison.

Về vị trí giải phẫu, tuyến thượng thận nằm sâu sau phúc mạc, là tuyến nội tiết có vai trò quan trọng đối với hoạt động sống của cơ thể. Có hai tuyến thượng thận nằm ở phía trên mỗi thận. Kích thước khoảng bằng quả óc chó, mỗi tuyến thượng thận có một phần bên ngoài (vỏ thượng thận) và một phần bên trong (tủy thượng thận). Tế bào trong những vùng khác nhau của tuyến thượng thận tạo những hormone khác nhau.

Tuyến thượng thận tiết ra hormone cortisol, aldosterone, androgen. Các hormone này tham gia vào các quá trình chuyển hóa phức tạp, đặc biệt các catecholamine của tủy thượng thận có tác dụng điều hòa huyết áp động mạch. Sự tăng tiết các nội tiết tố nguyên nhân do u tuyến thượng thận là nguyên nhân dẫn đến nhiều hội chứng bệnh lý nguy hiểm khó có thể điều trị triệt để bằng nội khoa.

Cortisol là một hormone steroid có vai trò quan trọng trong cơ thể. Chức năng của tuyến thượng thận bao gồm:

Hỗ trợ điều hòa huyết áp.

Hỗ trợ cơ thể điều hòa hệ thống miễn dịch.

Hỗ trợ cơ thể có phản ứng đáp ứng lại với stress.

Hỗ trợ cân bằng nồng độ insulin trong điều hòa lượng đường máu.

Suy tuyến thượng thận là gì? Đây là một dạng rối loạn xảy ra khi tuyến thượng thận hoạt động không hiệu quả khiến hormone cortisol sản xuất quá ít, đôi khi là cả aldosteron dẫn đến tình trạng rối loạn các quá trình chuyển hóa trong cơ thể, muối và nước của cơ thể sẽ bị đào thải ra bên ngoài thông qua nước tiểu, điều này sẽ khiến huyết áp giảm xuống rất thấp. Đồng thời, lượng kali sẽ tăng nhanh đến mức nguy hiểm, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe của con người. Suy tuyến thượng thận là bệnh lý có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Một trong những nguyên nhân gây suy tuyến thượng thận cấp là do dùng thuốc glucocorticoid trị bệnh không đúng cách. Nếu bạn uống quá nhiều glucocorticoid sẽ ức chế các hoạt động của tuyến thượng thận và khi ngừng uống thuốc này thì tuyến thượng thận mất khả năng phục hồi về hoạt động bình thường dẫn đến tình trạng suy tuyến thượng thận. Nguy cơ suy tuyến thượng thận tăng lên khi bạn đồng thời gặp phải stress mạnh về tinh thần hoặc thể xác (chấn thương, phẫu thuật…) thì sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng.

Khi được làm nghiệm pháp synacthen, bạn được tiêm chất hóa học gọi là tetracosactide. Nếu nồng độ của cortisol vẫn giữ ở mức thấp mặc dù đã tiêm tetracosactide; điều này cho thấy có vấn đề với chức năng của tuyến thượng thận. Thông thường, nghiệm pháp Synacthen sẽ được thực hiện ở bệnh viện vào buổi sáng.

Đầu tiên, nhân viên y tế sẽ lấy máu để kiểm tra nồng độ cortisol của bạn để bắt đầu nghiệm pháp synacthen.

Bác sĩ sẽ thiết lập đường truyền tĩnh mạch để có thể vừa lấy máu vừa truyền tetracosactide.

Nhân viên y tế sẽ tiêm tetracosactide vào tĩnh mạch hoặc tiêm bắp tay của bạn. Trong nghiệm pháp gọi là ” Nghiệm pháp synacthen tác dụng ngắn – short synacthen test” mẫu máu sẽ được lấy lại lần nữa khoảng 30 phút và 60 phút sau khi bạn được tiêm tetracosactide.

Nếu bạn được tiến hành ” Nghiệm pháp synacthen tác dụng ngắn”, bạn sẽ được xong sớm. Một cách khác, bạn có thể được làm ” Nghiệm pháp synacthen tác dụng lâu – long synacthen test”. Đây là dạng nghiệm pháp bạn được xét nghiệm máu trước khi bắt đầu kiểm tra. Sau đó bạn được tiêm tetracosactide và mẫu máu được kiểm tra đều đặn trong khoảng thời gian 24 giờ.

Đánh giá kết quả nghiệm pháp synacthen:

Xét nghiệm nhanh: nồng độ cortisol tăng hơn 7 mcg/dL trên mức ban đầu.

Xét nghiệm 24 giờ: nồng độ cortisol cao hơn 40 mcg/dL.

Xét nghiệm 3 ngày: nồng độ cortisol cao hơn 40 mcg/dL.

Đối với tình trạng suy tuyến thượng thận:

Mức độ cortisol tăng trên mức bình thường ( suy tuyến thượng thận thứ phát):

Sản xuất steroid nội sinh từ khối u không nội tiết.

Mức độ cortisol bình thường hoặc dưới mức bình thường ( suy tuyến thượng thận nguyên phát):

Nhồi máu thượng thận/xuất huyết;

Khối u di căn đến tuyến thượng thận;

Suy tuyến thượng thận bẩm sinh enzym;

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến thượng thận.

Về tác dụng phụ của nghiệm pháp synacthen là thường sẽ không có tác dụng phụ, ngoại trừ có thể xuất hiện một vết bầm nhỏ tại nơi kim tiêm đâm vào. Trong một vài trường hợp có thể xuất hiện tình trạng tĩnh mạch nơi lấy máu bị sưng lên nhưng thông thường sẽ trở lại bình thường trong vòng vài ngày sau đó.

XEM THÊM:

Xét Nghiệm Tuyến Thượng Thận

Tuyến thượng thận là một tuyến nội tiết của cơ thể, mà một khi rối loạn sẽ phát sinh nhiều bệnh lý: cường tuyến thượng thận, suy tuyến thượng thận, u tuyến thượng thận, hội chứng Cushing, bệnh Addison… gây nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt của người bệnh.

Xét nghiệm máu tuyến thượng thận thông qua 02 chỉ số hormone cortisol và ACTH giúp tầm soát các nguy cơ bệnh lý tuyến thượng thận chính xác, hiệu quả, từ đó thực hiện điều trị kịp thời.

Tuyến thượng thận

Tuyến thượng thận có nhiệm vụ tiết ra hormone tham gia các quá trình chuyển hóa phức tạp, đặc biệt các catecholamine của tuỷ thượng thận có tác dụng điều hoà huyết áp động mạch.

Tuyến thượng thận nằm sâu sau phúc mạc, mỗi bên của quả thận có 02 tuyến thượng thận. Kích thước của tuyến thượng khoảng bằng quả óc chó, có cấu tạo bên ngoài (vỏ thượng thận) và bên trong (tủy thượng thận). Tế bào trong những vùng khác nhau của tuyến thượng thận tạo những hormone khác nhau.

Sự tăng tiết các nội tiết tố do u tuyến thượng thận có thể gây nên nhiều bệnh lý phức tạp, khó điều trị dứt điểm bằng nội khoa.

Xét nghiệm máu tuyến thượng thận

Khái niệm

Cortisol (còn được gọi là hormone căng thẳng) là hormone steroid được sản xuất bởi tuyến thượng thận.

ACTH là tên viết tắt của adrenocorticotropic hormone (hormone kích vỏ thượng thận), còn gọi là corticotropin, được sản xuất bởi tuyến yên.

Mẫu xét nghiệm

Sự thay đổi nồng độ ACTH và cortisol trong máu thường được đánh giá cùng lúc, và việc lấy mẫu máu làm xét nghiệm ACTH và cortisol cùng một thời điểm để có thể biện luận kết quả một cách hợp lý.

Nồng độ ACTH thường cao vào buổi sáng và thấp vào buổi tối. Nồng độ cortisol tăng lên vào buổi sáng (đạt đỉnh vào 7 giờ sáng), và sụt giảm rất thấp vào buổi tối và trong suốt giai đoạn đầu của giấc ngủ.

Mẫu ACTH và cortisol thường lấy mẫu khi đói, vào khoảng từ 7 đến 10 giờ sáng.

Lưu ý khi xét nghiệm

Không tập thể dục mạnh trong vòng một ngày trước khi xét nghiệm.

Tạm ngưng một số loại thuốc.

Bệnh nhân nên ăn một chế độ ít carbohydrate trong vòng 48h trước khi lấy máu xét nghiệm, nhịn ăn và hạn chế hoạt động thể lực trước 10h – 12h.

Giá trị ở mức bình thường

8 giờ sáng đến 12 giờ trưa: 5,0-25,0 μg/dL hay 138-690 nmol/L

12h trưa đến 20 giờ tối: 5,0-15,0 μg/dL hay 138-410 nmol/L

20 giờ tối đến 8h sáng: 0-10,0 μg/dL hay 0-276 nmol/L

Dao động từ 6.0 – 76.0 pg/ml hoặc từ 1.3 – 16.7 pmol/L.

Tình trạng bất thường

Nồng độ cortisol trong máu tăng đột ngột khi cơ thể rơi vào trạng thái căng thẳng. Nếu nồng độ cortisol trong máu duy trì ở mức cao thường xuyên, đó là dấu hiệu của bệnh lý.

Chỉ số ACTH trong máu thay đổi tăng hoặc giảm đột biến có thể là dấu hiệu cảnh báo cơ thể đang gặp phải một số bệnh lý.

Chỉ định

Đối tượng nên làm xét nghiệm người bị rối loạn hormone cortisol: hội chứng Cushing (sản xuất quá mức cortisol) và bệnh Addison (sản xuất không đủ cortisol).

Bảng kết quả xét nghiệm cortisol và ACTH chính xác là điều rất quan trọng để bác sĩ chẩn đoán các bệnh lý tuyến thượng thận và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp. Để làm được đó, bệnh nhân cần đến các cơ sở y tế uy tín, chất lượng với máy móc trang thiết bị hiện đại cùng đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn vững vàng.

Phòng khám Đa khoa BSGĐ Phú Đức đã và luôn là địa chỉ đáng tin cậy cho khách hàng gần xa với việc đáp ứng xét nghiệm lâm sàng chuyên nghiệp, hiệu quả bởi đội ngũ tâm huyết và cơ sở hạ tầng được đầu tư chất lượng.

Để nhận được tư vấn kỹ lưỡng hơn (HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ), hãy liên hệ với Phòng khám BSGD Phú Đức!

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA PHÚ ĐỨC

ĐỊA CHỈ:838 – 840 Nguyễn Chí Thanh, Phường 4, Quận 11, chúng tôi

FACEBOOK: Phongkhamdakhoaphuduc

Các Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Thận

Xin Bs cho biết các xét nghiệm đánh giá chức năng thận, xin cảm ơn bs;

Trả lời: Thận là cơ quan chủ yếu của hệ tiết niệu. Hệ tiết niệu chịu trách nhiệm sản xuất, trữ và thải nước tiểu ra khỏi cơ thể. Thông qua việc bài tiết nước tiểu, cơ thể thải ra ngoài các chất độc và giữ thăng bằng cho môi trường bên trong cơ thể. Ngoài ra, thận cũng còn là một tuyến nội tiết tham gia vào việc tạo máu và điều hòa huyết áp động mạch.

Giải phẫu và sinh lý hệ tiết niệu

Bình thường, mỗi người có 2 thận nằm hai bên cột sống, ở vùng thắt lưng, là nơi sản xuất ra nước tiểu. Mỗi thận có 1 ống gọi là niệu quản, dẫn nước tiểu do thận sản xuất đến tích trữ ở bàng quang. Bàng quang ở vị trí thấp của bụng, là nơi chứa nước tiểu và tống xuất ra ngoài từng đợt mỗi khi bàng quang đầy. Niệu đạo là ống nối từ bàng quang đưa nước tiểu ra khỏi cơ thể. Hệ tiết niệu của nam và nữ hoàn toàn giống nhau, chỉ trừ chiều dài niệu đạo của nam dài hơn nữ

Tùy theo lượng nước cung cấp, trọng lượng, điều kiện môi trường.. cơ thể mỗi người thải ra 1-2 lít nước tiểu mỗi ngày. Nếu lượng nước tiểu nhiều hơn 2,5 lít, gọi là đa niệu. Lượng nước tiểu ít hơn 400ml là thiểu niệu và ít hơn 100ml là vô niệu.

Việc hình thành và bài tiết nước tiểu giúp cho cơ thể:

– Thải bỏ lượng nước thừa, qua đó kiểm soát thể tích máu lưu hành và áp lực máu

Thải bỏ các chất độc hình thành do quá trình chuyển hóa các chất bên trong cơ thể (chủ yếu là urea và acid uric)

– Điều hòa các chất điện giải của môi trường trong cơ thể

– Giữ thăng bằng kiềm- toan trong cơ thể

Các xét nghiệm đánh giá chức năng thận:

Tình trạng thận chỉ có thể đánh giá chính xác bằng cách sinh thiết thận, đọc các cấu trúc của các đơn vị thận dưới kính hiển vi. Các xét nghiệm hiện nay chỉ đánh giá tương đối chức năng thận, vì thế cần kết hợp nhiều xét nghiệm.

1.Các xét nghiệm sinh hóa:

Creatinin, BUN (Blood Urea Nitrogen) là các sản phẩm của quá trình chuyển hóa đạm của cơ thể, được thận thải ra qua nước tiểu. Trị số bình thường thay đổi tùy theo phòng xét nghiệm. Trung bình, BUN: 6-24 mg/dL (tương đương 2,5-8 mmol/L), creatinin: 0,5-1,2mg/dL (tương đương 45-110 mmol/L). Các chỉ số này tăng lên trong máu khi chức năng thận xấu đi.

Để chính xác hơn, người ta thường làm song song xét nghiệm urea/ máu và urea/ nước tiểu, creatinine/máu và creatinine/ nước tiểu. Từ đó tính ra độ thanh thải creatinine. Bình thường, độ thanh thải creatinine 70-120mL/phút. Độ thanh thải creatinine giảm phản ánh sự suy giảm chức năng thận

2. Điện giải đồ: rối loạn chức năng thận gây ra mất cân bằng các chất điện giải trong cơ thể.

Sodium (Natri):Natri máu bình thường 135-145 mmol/L. Người suy thận, natri máu giảm, có thể do nguyên nhân mất natri qua da, qua đường tiêu hóa, qua thận nhưng cũng có thể do thừa nước. Các triệu chứng lâm sàng của giảm natri máu chủ yếu ở hệ thần kinh đi từ nhẹ đến nặng: nhức đầu, buồn nôn, lừ đừ, hôn mê, co giật.

Potasium (kali): Kali máu bình thường 3,5- 4,5 mmol/L. Tăng kali máu ở bệnh nhân suy thân do thận giảm thải kali. Các triệu chứng của tình trạng tăng kali từ nhẹ đến nặng: mệt mỏi, dị cảm, mất phản xạ, liệt cơ, rối loạn nhịp tim.

Canxi máu: canxi máu bình thường 2.2-2.6 mmol/L. Suy thận có biểu hiện giảm canxi máu kèm theo tăng phosphat. Triệu chứng hạ canxi máu chủ yếu là dấu kích thích thần kinh cơ gồm tăng phản xạ gân xương, co cứng cơ, co giật, rối loạn nhịp tim.

3. Rối loạn cân bằng kiềm toan:

Bình thường pH máu được duy trì ở mức 7,37 – 7,43 cho phép hoạt động tối ưu của các men tế bào, yếu tố đông máu và các protein co cơ. Suy thận làm giảm thải các acid hình thành trong quá trình chuyển hóa của cơ thể hoặc mất bicarbonat gây tình trạng toan chuyển hóa cho cơ thể. Toan hóa máu làm loạn nhịp tim, rối loạn hô hấp (thở nhanh kiểu Kussmaul), làm nặng thêm tình trạng tăng kali máu. Đánh giá tình trạng toan máu bằng cách đo pH máu hoặc gián tiếp bằng bicarbonat.

4. Acid uric máu: trung bình ở nam: 5,1 ± 1,0 mg/dL (420 μmol/lít) nữ 4,0 ± 1mg/dL (360 μmol/lít). Acid uric máu tăng có thể là nguyên nhân gây tổn thương thận, nhưng cũng có thể là hậu quả do bị suy thận không thải được.

Acid uric máu tăng cũng có thể gợi ý bệnh nhân có kèm theo sỏi của hệ tiết niệu.

5. Tổng phân tích nước tiểu

Tỷ trọng nước tiểu: Tỷ trọng NT bình thường: 1,01 – 1,020 (nước tiểu 24h của người lớn ăn uống bình thường có tỷ trọng từ 1,016 – 1,022). Giảm chức năng thận giai đoạn sớm sẽ làm giảm độ cô đặc của nước tiểu, dẫn đến giảm tỷ trọng nước tiểu. Trong trường hợp nghi ngờ, bệnh nhân sẽ được làm thêm: so sánh tỷ trọng nước tiểu ngày và đêm, nghiệm pháp pha loãng nước tiểu, nghiệm pháp cô đặc nước tiểu….

6. Định lượng protein nước tiểu 24 giờ

Protein: một mẫu tổng phân tích nước tiểu có protein không thể đánh giá chính xác tình trạng tổn hại của các cầu thận, nhưng có tính gợi ý để bệnh nhân được chỉ định làm tiếp xét nghiệm định lượng đạm niệu 24 giờ .

7. Albumin huyết thanh 8. Protein toàn phần huyết tương

Bình thường: Protein trong nước tiểu = 0 – 0,2 g/24h.

Bình thường, albumin huyết thanh có khoảng 35 – 50 g/L, chiếm 50 – 60% protein toàn phần. Albumin giảm mạnh trong bệnh lý cầu thận cấp.

Bình thường: 60 – 80 g/L

Protein toàn phần huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận. Giảm protein toàn phần nhiều hơn trong các bệnh thận khi màng lọc cầu thận bị tổn thương.

Tình trạng giảm số lượng hồng cầu ở một bệnh nhân suy thận chứng tỏ đây là suy thận mạn, đặc biệt là khi có giảm số lượng hồng cầu kèm theo không tăng hoặc giảm hồng cầu lưới.

Đôi khi có thiếu máu thiếu sắt do kèm theo mất máu qua đường tiêu hóa.

Phát hiện được tình trạng thận ứ nước do tắc nghẽn niệu quản. Nếu thận ứ nước hai bên có thể gây ra suy thận cấp hoặc suy thận mạn.

12. Xạ hình thận bằng đồng vị phóng xạ

Phát hiện được các trường hợp bệnh lý thận đa nang bẩm sinh, di truyền.

Có thể gợi ý bệnh lý thận mạn tính qua hình ảnh siêu âm thấy thận có kích thước nhỏ, thay đổi cấu trúc, mất phân biệt vỏ tủy hoặc thận có nhiều nang.

Chỉ định các xét nghiệm chức năng thận

Là phương pháp thăm dò hình ảnh cho phép nhìn thấy rõ hình ảnh toàn bộ hệ tiết niệu.

Chỉ sử dụng trong các trường hợp nghi ngờ suy thận do tắc nghẽn đường tiết niệu.

Phương pháp chụp có tiêm thuốc cản quang bằng máy chụp đa lát cắt cho phép dựng hình lại toàn bộ đường tiết niệu, có thể phát hiện được vị trí và nguyên nhân gây bế tắc niệu quản.

Là xét nghiệm duy nhất cho phép đánh giá chức năng thận từng bên.

Phương pháp này nhìn rõchức năng lọc của từng thận, tỷ lệ phần trăm tưới máu và tham gia chức năng của từng thận.

Nếu có làm thêm nghiệm pháp tiêm thuốc lợi tiểu, xét nghiệm này cũng cho phép đánh giá mức độ tắc nghẽn niệu quản 2 bên.

Kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi năm, chỉ làm các xét nghiệm đơn giản có tính định hướng: xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng.

Tiền căn gia đình có các bệnh di truyền về thận hoặc có người thân bị suy thận: xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng, các xét nghiệm chuyên biệt về di truyền.

Khi lâm sàng có các biểu hiện suy thận:xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng. Nếu tìm thấy các nguyên nhân gây tắc nghẽn hệ niệu, làm thêm các xét nghiệm hình ảnh. Nếu không tìm thấy tắc nghẽn, có thể sinh thiết thận.

Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ

Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Thận Cần Gặp

Những trường hợp thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng thận

1. Kiểm tra sức khỏe định kỳ

Thông thường khi kiểm tra sức khỏe, xét nghiệm đánh giá chức năng thận thì bệnh nhân chỉ thực hiện các xét nghiệm đơn giản có tính định hướng như xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng.

Khi trong gia đình có các bệnh di truyền về thận thì cần xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng, các xét nghiệm chuyên biệt về di truyền.

2. Biểu hiện suy thận

Xét nghiệm đánh giá chức năng thận trong trường hợp đã bị suy thận thì cần xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng. Nếu tìm thấy các nguyên nhân gây tắc nghẽn hệ niệu, làm thêm các xét nghiệm hình ảnh. Nếu không tìm thấy tắc nghẽn, có thể sinh thiết thận.

Xét nghiệm đánh giá chức năng thận cần gặp

1. Xét nghiệm Creatinin máu và nước tiểu

Creatinin được tạo ra ở cơ, Creatinin theo máu qua thận, được thận lọc và bài tiết ra nước tiểu.

Nếu kết quả là bình thường:

– Nồng độ creatinin huyết tương(huyết thanh): 55 – 110 (mol/l).

– Nước tiểu: 8 – 12 mmol/24h (8000 – 12000 (mol/l).

2. Ure máu và nước tiểu

Xét nghiệm urê máu và nước tiểu được làm nhiều để đánh giá chức năng lọc cầu thận và tái hấp thu ở ống thận.

Nếu kết quả là bình thường:

– Nồng độ urê máu: 3,6 – 6,6 mmol/l.

– Nồng độ urê nước tiểu : 250 – 500 mmol/24h.

3. Các chất điện giải (Na+, K+, Cl-, Ca TP hoặc Ca++)

Kết quả của phân tích các chất điện giải là một trong các xét nghiệm đánh giá chức năng thận cần gặp, sau khi có kết quả có thể tham chiếu. Nếu là bình thường thì các chất này có chỉ số nhu sau:

– Na+ = 135 – 145 mmol/l.

– K+ = 3,5 – 5,5 mmol/l.

– Cl- = 95 – 105 mmol/l.

– Ca TP = 2,0 – 2,5 mmol/l.

– Ca++ = 1,0 – 1,3 mmol/l.

4. Albumin

Albumin là một trong hai thành phần chính của protein huyết thanh (albumin, globulin).

Bình thường, albumin huyết thanh có khoảng 35 – 50 g/l, chiếm 50 – 60% protein toàn phần huyết thanh. Nếu kết quả cho thấy Albumin giảm mạnh thì thể hiện tình trạng trong viêm cầu thận cấp.

5. Protein nước tiểu 24h

6. Creatinin máu và độ thanh lọc creatinin

Đây là một trong những xét nghiệm cần tiến hành trong xét nghiệm đánh giá chức năng thận. Xét nghiệm bình thường, khi các chỉ số nồng độ creatinin huyết tương (huyết thanh): 55 – 110 mmol/l và nước tiểu: 8 – 12 mmol/24h. Sau đó, người ta thường tính toán độ thanh lọc creatinin của thận, để chẩn đoán chính xác suy thận và mức độ suy thận.

7. Siêu âm bụng

Là xét nghiệm đánh giá chức năng thận cần gặp, bởi vì cho ra kết quả cung cấp nhiều thông tin hệ niệu, nhanh chóng, phát hiện sỏi, u bướu, nang thận… để gợi ý người bệnh thực hiện các xét nghiệm khác.

Bên trên là các xét nghiệm đánh giá chức năng thận cần gặp khi bệnh nhân tiến hành là xét nghiệm đẻ kiểm tra thận. Tuy nhiên các xét nghiệm này có thể thay đổi, nhằm nâng cao hiệu quả giám định các chức năng của thận tùy thuộc vào dịch vụ của cơ sở y tế.

Đăng ký nhận tư vấn