Xem Nhiều 1/2023 #️ Trường Th Đắk Dục: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh (Tiểu Học) Dân Tộc Thiểu Số # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Trường Th Đắk Dục: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh (Tiểu Học) Dân Tộc Thiểu Số # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Trường Th Đắk Dục: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh (Tiểu Học) Dân Tộc Thiểu Số mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1.1.Thuận lợi

Trong những năm gần đây trẻ em 5 tuổi người dân tộc thiểu số được chuẩn bị về tiếng Việt và một số kĩ năng sống để các em sẵn sàng đi học lớp 1. Do vậy, không có trường hợp học sinh 6 tuổi đến trường hoàn toàn không biết tiếng phổ thông.

Đại đa số trẻ em được đi học đúng độ tuổi, được chăm sóc, được tạo điều kiện để học tập. Chương trình tăng cường tiếng Việt đã nâng cao một cách hiệu quả kĩ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh dân tộc thành thạo tiếng mẹ đẻ và có thể sử dụng tiếng Việt ngày càng nhiều. Các em có thể hỗ trợ nhau trong quá trình học tập với vai trò tương tự như nhân viên trợ giảng. Đây là sự hỗ trợ tích cực đối với học sinh dân tộc trong quá trình học tiếng Việt.

Học sinh dân tộc gặp nhiều hạn chế về môi trường sử dụng tiếng Việt: những người xung quanh các em giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ là chủ yếu ( cùng hoặc khác ngôn ngữ với các em).

Ở cộng đồng, các em dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, đến trường các em phải học bằng ngôn ngữ thứ hai là tiếng Việt. Lời nói của trẻ trước khi đến trường tiểu học có tính chất tình huống, là dang ngôn ngữ hội thoại được tạo ra trong hoạt động vui chơi và các hoạt động khác. Khi đến trường, các em bắt đầu làm quen với lời nói độc thoại. Tiếp xúc với việc đọc, viết, học sinh tiếp cận với một phong cách ngôn ngữ mới – phong cách ngôn ngữ viết với những đặc điểm riêng và yêu cầu riêng; cách bắt đầu tham gia vào phạm vi giao tiếp mới có tính xã hội khác với giao tiếp gia đình. Do vậy, các em thường mắc lỗi phong cách trong sử dụng lời nói.

Như vậy, có thể nói học sinh dân tộc không chỉ gặp khó khăn khi dùng tiếng việt để trao đổi, chia sẻ thông tin với bạn bè và thầy cô, mà còn rất khó khăn khi nghe hiểu lời thầy cô hay bạn khi đọc hiểu các bài học trong sách. Đối với các em, luyện viết là điểu hết sức khó, không chỉ vì vốn sống, vốn tiếng Việt của các em quá ít mà còn vì tiếng mẹ đẻ của các em không có chữ viết, và đối với các em, viết là hành động khó từ thao tác tới nội dung biểu đạt.

Về phía giáo viên

Nhiều giáo viên không biết tiếng dân tộc để hỗ trợ học sinh học tập và giao tiếp. Mặt khác ở một số trường thuộc nhiều dân tộc khác nhau trong cùng một lớp nên khó khăn trên lại càng tăng lên, vì giáo viên không thể sử dụng, biết được tiếng mẹ đẻ của tất cả các em. Sự bất đồng về ngôn ngữ giữa giáo viên và dân cư nơi trường đóng đã hạn chế kết quả vận động gia đình và cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục như huy động trẻ em đi học và đi học đều chưa hiệu quả; do đó hạn chế kết quả học tập của học sinh.

Về nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học

Chương trình tiếng Việt là chương trình chung cho cả nước, thực hiện theo một trình độ chuẩn quốc gia; SGK chủ yếu soạn cho học sinh học tiếng việt với tư cách ngôn ngữ 1 (dành cho học sinh người kinh là chủ yếu) và cũng có những học sinh học môn Tiếng việt và học tiếng việt với tư cách là ngôn ngữ 2.

Một số nội dung, yêu cầu trong sách giáo khoa chưa thật gần gũi và phù hợp khả năng và thực tế và cuộc sống của học sinh dân tộc, có những yêu cầu khó đạt với các em.

Phương pháp dạy học tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ thứ nhất) của chương trình tiếng việt hiện hành chưa hoàn toàn thích hợp với đối tượng học sinh dân tộc chưa biết tiếng Việt hoặc biết rất ít (học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai).

2. Một số giải pháp để tăng cường tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số. 2.1. Mục tiêu của giải pháp

Nhà trường được dạy và học theo mô hình trường học mới, nhẹ nhàng, phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số nhằm tăng cường Tiếng Việt một cách hiệu quả qua các hoạt động dạy và học hàng ngày góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giảm thiểu tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học trong những năm học qua.

2.2 Vận dụng các phương pháp dạy học tiếng Việt phù hợp với học sinh dân tộc

Để việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc một cách hiệu quả, không chỉ cần phối hợp sử dụng các phương pháp một cách linh hoạt và hợp lí, mà còn cần chú ý vận dụng các phương pháp cho phù hợp với mục tiêu và nội dung đặc trưng của từng phân môn.

Sự lựa chọn phương pháp dạy học cần được xuất phát từ mục tiêu nội dung của bài học. khi chuẩn bị bài, giáo viên cân đối tiếng Việt và vốn từ của học sinh với nội dung bài học trong sách giáo khoa để quyết định giữ nguyên bài học như sách giáo khoa hay điểu chỉnh (sau đó dự kiến phương án điều chỉnh thực hiện điều chỉnh nội dung bài học).

Thứ nhất, sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ khi cần phân tích một hiện tượng nhôn ngữ cụ thể để học sinh có thể hiểu nhiều hiện tượng khác cùng loại. Các thao tác phân tích cần đơn giản, dễ thực hiện, thậm chí có thể đơn giản tới mức HS không cần lý thuyết vẫn phân tích và hiểu bản chất của hiện tượng một cách tự nhiên (ví dụ, phân tích ngôn ngữ trong các bài Học vần).

Phương pháp phân tích ngôn ngữ cũng có thể thực hiện khi học sinh có ý thức nhất định để khái quát từ những hiện tượng cụ thể thành các quy luật, ví dụ phân tích cấu tạo tiếng, cấu tạo từ, cấu tạo hai phần của câu đơn đầy đủ thành phần.

Với yêu cầu rút ra một hình mẫu ngôn ngữ, cũng nên dung phương pháp phân tích ngôn ngữ. Ví dụ giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích câu mẫu để các em nhận ra cấu trúc của một lá đơn, từ đó có thể dựa vào mẫu để thực hành viết đơn.

Với học sinh dân tộc chỉ yêu cầu phân tích các hiện tượng ngôn ngữ ở mức đơn giản. Không nhất phải yêu cầu HS rút ra các thông tin cần thiết: người khái quát các hiện tượng cụ thể thành quy tắc, quy luật có thể là giáo viên; học sinh quan sát các hoạt động của giáo viên để tiếp nhận và hiểu thông tin của bài sau khi giáo viên phân tích ngôn ngữ.

Thứ hai, sử dụng phương pháp giao tiếp ở những nội dung có thể chuyển biến thành hoạt động hỏi đáp, tương tác giữa nhiều người. Hoạt động giao tiếp có thể giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, cũng có thể giao tiếp giữa các học sinh với nhau. Với học sinh dân tộc nên bắt đầu từ hoạt động giao tiếp (mẫu) giữa giáo viên và học sinhh, sau đó các học sinh giao tiếp với nhau theo mẫu. Cần hướng dẫn học sinh luân phiên đổi vai trò trong quá trình giao tiếp để các em có thể thực hiện nhiều lần trong một thời lượng có hạn.

Trong quá trình giao tiếp, qua các câu hỏi đáp cụ thể, giáo viên cần tạo những tình huống giao tiếp sinh động, cụ thể, gần gũi với kinh nghiệm sống của học sinh, tạo điều kiện để các em được thực hành. Chú ý sử dụng các câu hỏi có tác động phát triển vốn từ và kiến thức ngữ pháp cho học sinh , không nên tạo ra những câu chỉ yêu cầu học sinh trả lời “có” hoặc “không”.

Thứ ba, hhi dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc, phương pháp luyện tập theo mẫu cần được thực hiện trong suốt quá trình dạy học. Cho dù giao tiếp hay phân tích ngôn ngữ thì học sinh đều phải quan sát mẫu và thực hiện theo mẫu. Thuận tiện, giáo viên làm mẫu và yêu cầu học sinh lặp lại mẫu, sau đó các em phải phân tích ngôn ngữ những ngữ liệu mới tương tự ngữ liệu mẫu và thực hành giao tiếp theo mẫu trên những tình huống mới tương tự tình huống mẫu.

Nên chú ý rằng, trong quá trình chuẩn bị bài, giáo viên cần tính đến việc chuyển hóa phương pháp dạy học cần thiết trước giờ học theo những hình thức dạy học đã dự kiến.

2.3. Nội dung và cách thức thực hiện những giải pháp a. Tạo không khí tiết học sôi nổi, nhẹ nhàng, hấp dẫn

Học sinh là người dân tộc thiểu số vốn dĩ rất nhút nhát, ngại giao tiếp với bạn bè và thầy cô giáo. Nhiều em khi thầy cô gọi đứng dậy trả lời chỉ đứng và im lặng vì hoặc là không hiểu được câu hỏi hoặc là không tự tin với những câu trả lời bằng tiếng phổ thông của mình do vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế. Tuy tài liệu hướng dẫn học có phát huy năng lực lực tự học của học sinh nhưng nhiều giáo viên vẫn còn ôm đồm, “tham”, chạy đua với thời gian, tìm mọi cách để làm sao truyền đạt, chuyển tải hết những kiến thức trong sách giáo khoa trong thời gian của 1 tiết học. Do đó tiết học thường rơi vào tình trạng hối hả nhưng trầm lặng, nặng nề, khô khan và thường diễn ra theo hướng một chiều. Vì vậy, muốn tiết dạy đạt hiệu quả cần tạo ra một không khí thật nhẹ nhàng, hấp dẫn. Đây là giải pháp đặc trưng trong quá trình giảng dạy đối với học sinh dân tộc thiểu số.

Hiểu được tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số, nhà trường đã có những chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và nhiều giáo viên ở trường đã áp dụng những phương pháp phù hợp tùy theo các môn học nhưng đều chú trọng đến những yếu tố vừa truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời tăng cường tiếng Việt thông qua những trò chơi ở tất cả các môn học (chủ yếu là các trò chơi về ngôn ngữ, trò chơi trí tuệ sử dụng ngôn ngữ) như: Sử dụng một số câu ca dao, thành ngữ, bài đồng dao để cho học sinh chơi trò chơi trong tiết học như kiểm tra bài cũ…; Đóng vai. Đóng vai là một trong những phương pháp gây được hứng thú trong học tập cho học sinh (học mà chơi, chơi mà học), rèn tính tự tin, tinh thần đoàn kết đặc biệt đây cũng là điều kiện tốt để tăng cường tiếng Việt cho học sinh thông qua hình thức học tập theo nhóm (Theo mô hình trường học mới).

Với những kết quả đã đạt được trong quá trình thực hiện chương trình lớp học mới trong những năm vừa qua mà nhà trường đã áp dụng, nhiều em học sinh dân tộc thiểu số ở đây đã trở nên mạnh dạn, tự tin, vốn tiếng Việt của các em đã được cải thiện rất đáng kể. Các em đã có khả năng tự đặt ra những câu hỏi, đưa ra những ý kiến của mình. Việc giao tiếp của các em cũng dễ dàng hơn. đặc biệt tạo điều kiện để các em bổ sung vốn tiếng Việt một cách hiệu quả.

b. Bồi dưỡng những học sinh thành thạo tiếng Việt để làm “trợ giảng” cho giáo viên

Những năm trước đây, dự án dân tộc ít người đã hỗ trợ kinh phí để hợp đồng cho mỗi điểm trường 1 nhân viên hỗ trợ giáo viên là người dân tộc thiểu số nhằm giúp đỡ giáo viên trong việc “phiên dịch”, hướng dẫn, làm quen giúp cho học sinh hiểu được những yêu cầu của giáo viên và ngược lại nhằm nâng cao chất lượng trong quá trình giảng dạy.

Nhiều giáo viên nhà trường vì không biết tiếng dân tộc nên gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy nhất là đối với học sinh lớp Một và lớp Hai. Vì vậy nhiều giáo viên vào đầu năm học đã “nhờ” vài em có vốn tiếng Việt tương đối nhằm giúp giáo viên trong quá trình tổ chức lớp học giống như những “phiên dịch”. Sau đó, giáo viên có sáng kiến bồi dưỡng, hướng dẫn những em học sinh này giống như một “trợ giảng” đắc lực cho giáo viên nhằm thực hiện phương pháp hỏi đáp trong quá trình dạy học (thường được sử dụng ở lớp Một và lớp Hai). Phương pháp này rất gần gủi và nhẹ nhàng giúp cho giáo viên và học sinh cảm thấy thoải mái, không còn sự ngăn cách mà không tốn nhiều thời gian. Việc hỏi đáp giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh… Đây là một hình thức tổ chức dạy học không mới nhưng rất phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số còn hạn chế về vốn tiếng Việt.

c. Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp

Nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp và xem đây là điều kiện thuận lợi để các em có được những khoảng thời gian hoạt động vui chơi tập thể giúp các em mạnh dạn, tự tin và có cơ hội để bồi dưỡng tiếng Việt một cách hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục vì học sinh của trường chiếm trên 85% là học sinh dân tộc thiểu số, việc nâng cao chất lượng giáo dục gặp rất nhiều khó khăn do phần lớn học sinh vốn tiếng Việt chưa đáp ứng được yêu cầu nên việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là một trong những giải pháp hiệu quả để tăng cường tiếng Việt cho các em. Do đó, nhà trường có kế hoạch cụ thể cho các đoàn thể, khối lớp thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp như: Thành lập các câu lạc bộ; giao lưu kiến thức vào sáng thứ hai chào cờ; múa hát sân trường, tạo môi trường tiếng việt trong và ngoài lớp bằng các câu khẩu hiệu, bảng, biểu; thư viên xanh, thư viện lớp học; thi nghi thức, kiến thức về đội, giao lưu văn nghệ, tổ chức các trò chơi truyền thống … Những hoạt động này rất phù hợp để tăng cường tiếng Việt cho các em vì để thực hiện tốt hoạt động này thì các em phải tập trung tập luyện, chuẩn bị, trao đổi những thông tin giữa bạn bè trong tổ, trong lớp.

g. Giao lưu tiếng Việt giữa các khối lớp

Chương trình “Giao lưu tiếng việt của chúng em” là hoạt động với ý nghĩa nhằm khơi dậy ở các em học sinh dân tộc lòng ham thích tiếng việt, yêu quý trân trọng bản sắc văn hóa dân tộc, tạo không khí vui tươi “Học mà chơi, chơi mà học” góp phần xây dựng các tiêu chí trường học thân thiện, đồng thời phát hiện năng khiếu, khả năng nghe, nói, đọc, viết, khả năng diễn thuyết của học sinh dân tộc thiểu số cấp tiểu học. Qua hoạt động giao lưu tiếng Việt giúp các em học sinh dân tộc thiểu số hình thành kĩ năng sử dụng tiếng Việt và tình yêu tiếng Việt.

h. Tạo thói quen sử dụng tiếng phổ thông ở gia đình và cộng đồng

Gia đình là trường học đầu tiên và vô cùng quan trọng đối với mỗi đứa trẻ đặc biệt là việc hình thành ngôn ngữ cho trẻ. Thực tế ở nhà trường có đến trên 85% học sinh là người dân tộc thiểu số. Các em sống với gia đình, ít có điều kiện gặp gỡ, giao lưu với người Kinh nên vốn tiếng Việt của các em rất hạn chế trong khi những người trong gia đình ít sử dụng tiếng phổ thông.

Hiểu được tầm quan trọng của tiếng Việt đối với học sinh dân tộc thiểu số. Chi bô và nhà trường phân công Đảng viên và giáo viên phụ trách thôn làng thường xuyên phối hợp với ban tự quản thôn, các đoàn thể thôn lồng ghép nhắc nhở phụ huynh học sinh trong các cuộc họp, sinh hoạt thôn quan tâm đến việc bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình và tầm quan trọng của tiếng Việt trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Từ đó có thói quen sử dụng tiếng phổ thông trong sinh hoạt hàng ngày.

Trong nhà trường nên tăng cường Tiếng Việt cho học sinh mẫu giáo trong hè trước khi vào lớp Một là 01 tháng.

Tóm lại: Đến nay, nhiều gia đình dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện nói chung và xã Đắk Dục nói riêng đã có thói quen dùng tiếng phổ thông trong sinh hoạt gia đình; các chi đoàn ở thôn đã xây dựng được kế hoạch hoạt động để tổ chức sân chơi cho các em trong thời gian nghỉ hè và thời gian các em nghỉ học. Vì vậy trẻ được tiếp xúc với tiếng Việt ngay tại gia đình và ở cộng đồng, vốn tiếng Việt của các em cũng được nâng lên rất nhiều góp phần thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức ở trường.

i. Khuyến khích giáo viên tự học tiếng dân tộc

Trong những năm học vừa qua, nhà trường cũng đã có một số giáo viên công tác lâu năm ở đây thấy được sự cần thiết và thuận lợi trong quá trình giảng dạy khi giáo viên có thể nghe và nói được tiếng dân tộc nên họ đã tự học. Khi giáo viên có được vốn tiếng dân tộc cơ bản cần thiết thì việc giao tiếp với học sinh trở nên gần gủi hơn, tạo điều kiện để giải thích cho các em hiểu được những tiếng, từ, câu khó, hướng dẫn cho các em phát âm tiếng Việt một cách chính xác.

Thấy được hiệu quả của việc học tiếng dân tộc, nhà trường đã tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên tham gia chương trình học. Nhiều giáo viên đã tự học tiếng dân tộc và nắm được những từ ngữ cơ bản phục phụ cho công tác giảng dạy.

Qua việc kiểm tra dự giờ những lớp mà giáo viên nói và hiểu được tiếng dân tộc nhất là lớp 1 thì tỷ lệ học sinh nói và hiểu tiếng Việt cũng nhiều hơn, chất lượng dạy và học cũng cao hơn so với những lớp khác. Vì vậy có thể xem đây là một trong những giải pháp, là phương tiện thiết thực để tăng cường tiếng Việt và nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số một cách hiệu quả.

Hoàng Thị Hoà (HT Trường TH Đắk Dục).

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số

Huyện Ngọc Hồi nằm ở phía bắc tỉnh Kon Tum, phía Bắc giáp với huyện Đắk Glei và huyện Tu Mơ Rông, phía Đông giáp với huyện Đắk Tô, phía Đông Nam giáp với huyện Sa Thầy. Có đường biên giới với 2 nước Lào và Cam Phu Chia. Diện tích 824 km². Có 7 xã và 1 thị trấn. Dân số 56.284 người với 17 dân tộc trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 55,66% .

Trình độ dân trí một số vùng khó khăn còn thấp. Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào việc phát triển kinh tế, nhất là kinh tế nông nghiệp còn nhiều hạn chế.

Năm học 2017-2018, toàn huyện có 14 trường tiểu học với 218 lớp, 6256 học sinh. Học sinh dân tộc thiểu số ( DTTS) là 3806 em, tỉ lệ 61%. 100 trường tổ chức dạy học 2 buổi/ ngày. Trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 đạt tỷ lệ 100%.

Huyện duy trì tốt kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ trong đó có 6/8 xã, thị trấn đạt mức độ 3.

1. Những thuận lợi, khó khăn chính khi triển khai thực hiện nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số a. Những thuận lợi chính

Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Sở Giáo dục và Đào tạo, của chính quyền địa phương, sự phối hợp chặt chẽ các tổ chức đóng chân trên địa bàn.

100% học sinh được học 2 buổi/ ngày.

Cha mẹ học sinh ngày càng nâng cao nhận thức và quan tâm hơn đến việc học tập của con em mình.

100% CB, GV có trình độ đào tạo chuẩn trở lên trong đó 92% trên chuẩn. Đại bộ phận CBQL, GV tâm huyết, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm.

Trường lớp, cơ sở vật chất ngày càng đầy đủ, khang trang và đạt chuẩn (đảm bảo 01 phòng học/lớp; 100% phòng học đạt cấp 4A và kiên cố; đã có 10/14 trường TH đạt chuẩn quốc gia, đạt 71.4%).

Trang thiết bị, đồ dùng dạy và học thiếu đồng bộ, thiếu chuẩn.

Lối sống khép kín trong gia đình và buôn làng khiến môi trường tiếng Việt của học sinh DTTS nhiều hạn chế, tạo ra không ít rào cản trong việc học tiếng Việt của các em.

Đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Việt và tiếng các DTTS ở Tây Nguyên có nhiều khác biệt, nhất là yếu tố dấu thanh trong tiếng Việt tạo ra không ít khó khăn cho các em.

Một bộ phận giáo viên còn hạn chế trong phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh DTTS.

Xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày, trong đó xác định nội dung, chương trình dạy cho buổi thứ hai: giãn tiết, tổ chức phụ đạo kiến thức cho học sinh còn hạn chế, bồi dưỡng kiến thức nâng cao cho học sinh năng khiếu hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoại khóa, hoạt động giáo dục trải nghiệm khác…

Các trường giao quyền chủ động cho giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học: Điều chỉnh, tích hợp hoặc tăng thời lượng; phân luồng đối tượng học sinh, tổ chức dạy học theo hướng cá thể hóa, chấp nhận sự khác biệt trong lớp học với phương châm “đi chậm mà chắc”, “học đến đâu chắc đến đó”.

Chỉ đạo giáo viên rà soát nội dung dạy học trong sách giáo khoa (SGK), tài liệu học tập đề xuất với tổ chuyên môn chủ động, linh hoạt điều chỉnh, tinh giảm, lược bớt những nội dung trùng lặp, thay đổi ngữ liệu cho phù hợp với vùng miền và học sinh DTTS…trên nguyên tắc đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh.

Qua 07 năm thực hiện (từ năm học 2011 – 2012), môn Tiếng Việt CGD đã cho kết quả rất tốt. Sau 02 năm thí điểm ở Trường TH Đắk Dục, TH Kim Đồng, TH Đắk Ang (những trường có tỉ lệ học sinh DTTS từ 80 đến trên 90%), từ năm học 2013 – 2014 đến nay, 100% lớp một trên địa bàn Ngọc Hồi được học Tiếng Việt CGD.

e. Xây dựng thư viện thân thiện, thư viện xanh, thư viện lớp học tạo phong trào đọc sách

Để triển khai hiệu quả, 100% CBQL, giáo viên dạy Tiếng Việt CGD được tập huấn; lớp học được biên chế không quá 35 em/ lớp, được tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.

3. Kết quả thực hiện

Hàng năm, Phòng GD và các trường tổ chức các hội thảo chuyên đề nâng cao chất chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 CGD;

Đến nay việc dạy Tiếng Việt CGD ở huyện Ngọc Hồi đã vững vàng, tin cậy.

Việc dạy đại trà Tiếng Việt CGD lớp 1 đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt trên địa bàn huyện, trong đó có học sinh DTTS.

Môi trường ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng. Các trường đã thực hiện việc xây dựng môi trường ngôn ngữ tiếng Việt cho học sinh DTTS học tiếng Việt với nhiều hình thức như:

4. Kinh nghiệm

Trang trí lớp học với các câu, chữ, danh ngôn tiếng Việt phù hợp với học sinh từng khối lớp; Xây dựng cảnh quan xanh – sạch – đẹp với những bano, khẩu hiệu có hình dáng, màu sắc bắt mắt ở những vị trí dễ “đập vào mắt” học trò. Tất cả được khai thác triệt để trong các giờ ra chơi, buổi chào cờ, sinh thoạt ngoại khóa…

Tăng cường sử dụng tiếng Việt trong thời gian ở trường, ở tất cả các hoạt động học tập và vui chơi.

Dạy tiếng Việt trong tất cả các môn học: nghe, nói, đọc viết… đều được giáo viên uốn nắn, chỉnh sửa cho các em như trong môn Tiếng Việt.

Nguyễn Minh Tuấn (Phòng GDĐT Ngọc Hồi).

Tổ chức các hoạt động đội, giao lưu “Tiếng Việt của chúng em”, văn hóa văn nghệ, TDTT, trò chơi dân chúng tôi đó giúp các em nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Việt.

Tuyên truyền, hướng dẫn, tư vấn cho CMHS và cộng đồng tăng thời thường sử dụng tiếng Việt trong gia đình và cộng đồng.

100% trường tiểu học xây dựng thư viện và khai thác, sử dụng tốt thư viện với các hình thức: thư viện trường, thư viện lớp học, thư viện xanh. Các thư viện được trang bị nhiều sách, truyện, tranh phù hớp với lứa tuổi học trò để các em đọc; Xây dựng “văn hóa đọc” trong học đường…

Nhờ đó, trình độ, kỹ năng tiếng Việt của học sinh DTTS được nâng cao.

Chính quyền địa phương, cha mẹ học sinh đã có chuyển biến tích cực về nhận thức, quan tâm cụ thể, thiết thực hơn đến việc học tập của học sinh DTTS.

Hoạt động dạy học Tiếng Việt cho học sinh DTTS ở các trường TH trên địa bàn huyện được quan tâm đúng mức, được tổ chức thực hiện nghiêm túc, linh hoạt và mang lại hiệu quả rõ rệt.

CBQL trong huyện có sự thống nhất cao về quan điểm chỉ đạo; Đội ngũ giáo viên nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng Tiếng Việt cho học sinh DTTS.

Chất lượng học sinh được nâng cao và có tính bền vững. Tỉ lệ học sinh DTTS Hoàn thành và Hoàn thành tốt môn Tiếng Việt đạt trên 97% với biểu hiện cụ thể là học sinh DTTS mạnh dạn, tự tin trong học tập và giao tiếp tiếng Việt. Năng lực tiếng Việt tốt đã giúp các em học tốt các môn học khác và các mặt giáo dục.

Về biên chế học sinh/ lớp: Vì học sinh DTTS gặp nhiều khó khăn nên đề nghị cần có quy định biên chế lớp riêng cho những trường có tỉ lệ học sinh DTTS trên 50% tối đa 30 học sinh/ lớp.

Cần có chương trình dạy tiếng Việt linh hoạt hơn, phù hợp cho đối tượng học sinh DTTS theo hướng tăng về thời lượng, tăng về thực hành.

Tăng cường cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị đồ dùng dạy học và các chính sách tài chính cho học sinh vùng sâu, vùng xa, học sinh DTTS nhằm tạo điều kiện học tập tốt hơn cho các em.

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Dân Tộc Tại Trường Tiểu Học Lê Hồng Phong

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………………3 1.

Lý do chọn đề tài………………………………………………………………………………………….3

2.

Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài………………………………………………………………………..3

3.

Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………………………………………4

4.

Giới hạn phạm vi nghiên cứu………………………………………………………………………..4

5.

Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………………………4

II. PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………………………………..4 1.

2.

3.

Cơ sở lý luận………………………………………………………………………………………………..4 1.1.

Cơ sở thực tiễn………………………………………………………………………………………4

1.2.

Cơ sở lý luận khoa học…………………………………………………………………………..5

Thực trạng…………………………………………………………………………………………………..5 2.1.

Thuận lợi và khó khăn…………………………………………………………………………..5

2.2.

Thành công và hạn chế………………………………………………………………………….6

2.3.

Mặt mạnh và mặt yếu…………………………………………………………………………….7

2.4.

Các nguyên nhân, các yếu tố tác động……………………………………………………..8

2.5.

Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng và đề tài đã đặt ra……………………..8

2.5.1.

Khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa………………………………………………………8

2.5.2.

Hạn chế về điều kiện kinh tế và nhận thức của đồng bào dân tộc…………….9

2.5.3.

Khó khăn của đội ngũ giáo viên………………………………………………………..11

Giải pháp, biện pháp…………………………………………………………………………………..11 3.1.

Mục tiêu của giải pháp, biện pháp…………………………………………………………11

3.2.

Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp…………………………….12

3.2.1.

Tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em học sinh dân tộc…….12

3.2.2.

Tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái và tôn trọng…………………………12

3.2.3.

Quan tâm đến những khó khăn của học sinh……………………………………….15

3.2.4. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện ở lớp, ở nhà………………………………………………………………………………………..20 3.2.5. Tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán…………………22

1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

3.2.6. Rèn luyện các thói quen và hành vi văn minh………………………………………….26 3.5.7. Phối hợp kịp thời với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường…….28

3.3.

Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp……………………………………………….29

3.4.

Mối liên hệ giữa các giải pháp, biện pháp………………………………………………29

Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu….29 PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………………………………30

1.

Kết luận…………………………………………………………………………………………………….. 30

2.

Kiến nghị…………………………………………………………………………………………………… 31

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT DTTS

Dân tộc thiểu số

HSDTTS

Học sinh dân tộc thiểu số

TCTV

Tăng cường tiếng việt

GDTH

Giáo dục tiểu học

HS

Học sinh

GV

Giáo viên

2

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Một trong những điều kiện có ý nghĩa quyết định vị thế cùng sự bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc trong cùng khu vực hay trên thế giới là chất lượng nguồn nhân lực. Việc tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực có trình độ khoa học – kỹ thuật và kỹ năng làm việc cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay là một đòi hỏi khách quan. Để đáp ứng yêu cầu khách quan ấy, giáo dục – đào tạo là công cụ quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Vai trò quan trọng của giáo dục – đào tạo thể hiện ở chỗ nó phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực không chỉ trên bình diện xã hội rộng lớn, mà còn có khả năng tiếp cận đến từng cá nhân, từ đó, giáo dục và đào tạo đóng vai trò tạo nguồn trực tiếp về mặt chủ thể cho các quá trình phát triển kinh tế – xã hội và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, cơ hội học tập và nâng cao trình độ của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng nhiều hơn. Đến nay, các tỉnh miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và chống tái mù chữ. Tuy nhiên chất lượng giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số nhìn chung còn thấp so với mặt bằng của cả nước. Ở địa bàn huyện KrôngAna nói chung và trường Tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng tỷ lệ số học sinh dân tộc thiểu số khá cao, đặc biệt tại Phân hiệu Buôn Đrai. Bản thân tôi là một giáo viên đã nhiều năm gắn bó với nghề, với trường nên tôi nhận thức được rất rõ chất lượng giáo dục cũng như các điểm hạn chế của các em học sinh dân tộc thiểu số. Để củng cố và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cho các em học sinh dân tộc, tôi chọn nghiên cứu và xây dựng đề tài ” Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc tại trường Tiểu học Lê Hồng Phong”. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài – Xác định được thực trạng về chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, chất lượng của các em học sinh dân tộc thiểu số của nhà trường. – Đưa ra được một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho các em học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường.

3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

3. Đối tượng nghiên cứu – Nghiên cứu một số phương pháp truyền thống, phương pháp mới mà giáo viên nhà trường đã thực hiện trong quá trình giảng dạy những năm học vừa qua đối với học sinh trường Tiểu học Lê Hồng Phong, một số hoạt động ngoài giờ lên lớp có liên quan đến việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh DTTS. – Học sinh DTTS ở trường Tiểu học Lê Hồng Phong, chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường trong những năm gần đây, những thuận lợi – khó khăn và điều kiện dạy học của nhà trường. – Chất lượng đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Lê Hồng Phong. – Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường, đặc điểm kinh tế và xã hội của khu vực. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu một số phương pháp dạy và học, những thành tựu trong việc đổi mới phương pháp dạy học đối với học sinh dân tộc thiểu số ở tất cả các khối từ lớp 1 đến lớp 5 đặc biệt là kết quả của việc nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số của các giáo viên đứng lớp và các giáo viên bộ môn ở trường Tiểu học Lê Hồng Phong. 5. Phương pháp nghiên cứu – Tổng hợp số liệu về thực trạng chất lượng học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học Lê Hồng Phong, tổng hợp các số liệu về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất. – Phân tích, so sánh chất lượng, hiệu quả đào tạo trước khi thực hiện biện pháp và sau khi áp dụng các biện pháp mới. – Tham khảo ý kiến của giáo viên và học sinh về những thuận lợi, khó khăn, hiệu quả đạt được và những hạn chế khi thực hiện những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh DTTS. II.PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận 1.1. Cơ sở thực tiễn Nâng cao chất lượng học sinh DTTS là một yêu cầu trọng tâm trong đường lối phát triển giáo dục của nước ta hiện nay. Chính phủ và Nhà nước đã và đang đưa ra nhiều đường lối, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các em học sinh dân tộc thiểu số được học tập, được nâng cao chất lượng giáo dục. Giáo dục tiểu học đối với các em học sinh dân tộc thiểu số là một nền tảng vô cùng quan trọng để các em tiếp cận tốt hơn với kho tàng tri thức của nhân loại. Giai đoạn tiểu học sẽ là bước để các em tiếp thu ngôn ngữ Tiếng Việt, các kiến thức cơ bản và là một bước để các em thay đổi tư duy vốn có về mục đích và ý nghĩa của việc học tập. 1.2. Cơ sở lý luận khoa học

4

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

Giáo dục là hoạt động hướng tới con người, bằng những biện pháp hướng tới truyền thụ: Tri thức và khái niệm, kỹ năng và lối sống, tư tưởng và đạo đức. Từ đó hình thành năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu, hoạt động lao động, sản xuất và lối sống xã hội. Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của giáo dục: Là nhằm đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 2. Thực trạng 2.1. Thuận lợi và khó khăn a. Thuận lợi: –

Đảng và nhà nước luôn quan tâm coi trọng công tác dân tộc và giáo dục dân tộc có đường lối chính sách rõ ràng, pháp luật rõ ràng, các văn bản dưới luật chi tiết cụ thể.

Các cấp quản lí ngành Giáo dục luôn quan tâm chỉ đạo sát sao, đặc biệt là chất lượng giáo dục HSDTTS.

Công tác xã hội hóa giáo dục ở thôn buôn được nâng cao, các tổ chức đoàn thể tham gia nhiệt tình.

Đội ngũ giáo viên nhiệt tình đa số có năng lực và tâm huyết đối với chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng HSDTTS nói riêng.

Bản thân sống gần gũi với người dân Ê đê, có hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, thông thạo địa bàn.

Về cộng đồng dân cư đồng bào DTTS và HSDTTS. Ngày nay, hoạt động kinh tế xã hội, phong tục tập quán, một số nếp sống trong cộng đồng dân cư đã thay đổi theo hướng tiến bộ làm cho cha mẹ học sinh và HSDTTS xóa bản tính tự nhiên, dựa vào thiên nhiên mà họ đã có nhu cầu phải học, trước hết là học để biết “cái chữ”.

Về cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt và TCTV cho HSDTTS ngày càng được trường và các cấp quan tâm đầu tư. Đặc biệt là ở 2 điểm trường buôn Eana và Buôn Drai.

b. Khó khăn:

5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

Có sự bất đồng về ngôn ngữ giữa giáo viên với học sinh; giữa giáo viên với phụ huynh.

Nhận thức và nhu cầu học tập của một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số cò thấp, tỉ lệ chuyên cần của HSDTTS vẫn chưa cao.

Phong tục tập quán, đặc điểm tâm lí, văn hóa dân tộc cũng tác động, ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em.

Đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Ê-đê ở hai buôn Eana và buôn Drai còn gặp nhiều khó khăn cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng học tập của các em.

2.2. Thành công và hạn chế a. Thành công: –

HSDTTS được huy động đến trường cao. Trường Tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng và xã Eana nói chung được cấp trên công nhận đạt Phổ cập GDTH đúng độ tuổi.

HSDTTS có cơ hội học tập và hòa nhập nhiều hơn.

Cộng đồng người đồng bào dân tộc đã có thay đổi nhận thức về việc học và nhu cầu được học.

Chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt cho HSDT ngày càng được nâng cao, hầu hết các em đều đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học, đa số các em có vốn tiếng Việt đủ để làm phương tiện tìm hiểu kiến thức các môn học khác.

Khi nghiên cứu đề tài này bản thân tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ hợp tác của đồng nghiệp, HSDTTS và ban tự quản.

b. Hạn chế: Tuy với sự nỗ lực của thầy và trò, các em đều đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học theo quy định nhưng vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục: –

Học sinh hạn chế về hưởng nền giáo dục gia đình và cộng đồng nơi cư trú, có ít cơ hội được giao tiếp tiếng Việt ở cộng đồng .

Phụ huynh chưa tích cực giúp con em mình giao tiếp và sử dụng tiếng Việt.

Chất lượng sử dụng tiếng Việt của các em HS DTTS chưa cao.

Tiếng Việt thuộc ngữ hệ Việt – Mường có nhiều đặc điểm khác hẳn so với tiếng Êđê thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me về cấu trúc, cú pháp, … nên các em HSDT tiếp thu tiếng Việt rất khó.

6

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

2.3. Mặt mạnh và mặt yếu a. Mặt mạnh: –

Bản thân đã nhiều năm phụ trách lớp có tỷ lệ HSDTTS cao, giao tiếp trực tiếp với HSDTTS và phụ huynh nên nắm bắt được nhiều thông tin phản hồi từ phía gia đình học sinh.

Đội ngũ giáo viên được tập huấn đầy đủ về TCTV và có tinh thần tích cực học tập, bồi dưỡng thường xuyên; có tình thương yêu đối với học sinh, luôn nhiệt tình, trách nhiệm trong công tác giáo dục HSDT và TCTV cho HSDT.

Bản thân sống gần gũi với cộng đồng người Ê-đê, tìm hiểu, học tập được ngôn ngữ, phong tục tập quán, đời sống của người dân Ê-đê nên thuận tiện nhiều trong việc giáo dục học sinh dân tộc Ê-đê.

Công tác thông tin tuyên truyền về giáo dục cũng được thực hiện thường xuyên.

Trường có giáo viên chuyên dạy tiếng Ê-đê.

Các hoạt động ngoài giờ lên lớp để tạo sự gần gũi giữa giáo viên và các học sinh dân tộc thiểu số chưa đạt hiệu quả cao.

Chất lượng học tập của các học sinh dân tộc thiểu số chưa đạt được kết quả tốt nhất

2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động Các nguyên nhân, các yếu tố tác động dẫn đến những thành công là: –

Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước luôn đề cao coi trọng công tác giáo dục dân tộc.

Được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của các cấp quản lí giáo dục.

Đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tích cực đổi mới phương pháp dạy học và trăn trở với chất lượng HSDT.

7

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM –

GV: Thái Thị Luận

Một số tập tục lạc hậu trong cộng đồng dân tộc bị bãi bỏ, điều kiện tự nhiên không còn ưu đãi cho cuộc sống tự nhiên mà yêu cầu sản xuất, phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa,.. cần phải biết thông tin, khoa học kĩ thuật cũng là yếu tố tác động khiến đồng bào DTTS thay đổi nhận thức và có nhu cầu cần phải học.

Nguyên nhân, các yếu tố tác động làm cho chất lượng học tập tiếng Việt của HSDT còn hạn chế là: –

Nội dung chương trình học chưa thực sự phù hợp, người dạy thì hạn chế về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lí,… của học sinh nên khó có biện pháp TCTV.

Người học cũng học bằng ngôn ngữ thứ hai nên gặp nhiều rào cản.

2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng và đề tài đã đặt ra. 2.5.1. Khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa. Giáo dục ngôn ngữ ở các tỉnh miền núi luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, dạy học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên luôn là nhiệm vụ hàng đầu của những người đang giảng dạy tại nơi đây. Đó là việc dạy học tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số đang cư trú tại dải đất này, các dân tộc như Jrai, Bahnar… Mục đích của việc giáo dục ngôn ngữ này là nhằm cung cấp cho các em một công cụ giao tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng sống dưới mái nhà chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới. Thế nhưng xét về mặt chất lượng, hiệu quả giáo dục ngôn ngữ hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên, như Gia Lai, KonTum, ĐăkLăk vẫn còn thấp. Khác với học sinh người kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế cũng có số ít các em được trải qua sự chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm Non đã trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các em bước vào lớp1. Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em. Việc giao tiếp thông thường với thầy cô giáo đã khó khăn, và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em. Đến trường, đến lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến trường.

8

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các em, trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên, bản năng. Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người địa phương chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến thức về tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ thường trực trong họ. Chính vì thế, mỗi lần các cán bộ xã, huyện về chủ trì một cuộc họp nào đó ở buôn, làng, họ phát biểu bằng tiếng Việt rất khó khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng vào trong đời sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời trường, rời lớp. Dần dà các em không thể sử dụng tiếng Việt, quên ngay những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ đó, đã khiến cho các em thụ động, thiếu linh hoạt khi ở môi trường giao tiếp lớn hơn, vượt khỏi môi trường cộng đồng dân cư nhỏ hẹp. 2.5.2. Hạn chế về điều kiện kinh tế và nhận thức của đồng bào dân tộc. Tiếp xúc, quan sát học sinh dân tộc thiểu số, tôi nhận thấy rằng, các em học sinh ở đây đã biết ý thức về nguồn gốc của mình. Cái nghèo luôn nhắc nhở con người sống trong cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân. Nghèo đã giúp con người ta vươn lên nhưng nghèo cũng làm cho con người luôn mặc cảm, tự ti, bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Mặc cảm số phận đã khiến con người không thể thoát khỏi những thiếu thốn vật chất, không thể vươn xa hơn không gian sống hiện tại. Những học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số nơi đây không có sự hồn nhiên của tuổi trẻ, không chỉ có “ngày hai buổi đến trường”, các em còn phải miệt mài trên nương rẫy trỉa lúa, trồng ngô,…lo cho cuộc sống vật chất. Nghe những đồng nghiệp tâm sự, rằng “chúng tôi phải vào tận buôn lùng sục các em, đưa các em đến trường.”; cũng có nhiều giáo viên chia sẻ, “Tôi phải dùng tiền lương của mình để mua quà ăn, đồ dùng học tập cho các em, rồi mới đưa các em trở lại trường. Nhưng có lúc cũng không thành công!”,… Theo tôi, cái gốc rễ của vấn đề là ở chỗ, cái nghèo truyền kiếp đã quy định trách nhiệm của các em đối với gia đình. Cái ăn từng bữa còn chưa có, chưa đủ thì học chữ để làm gì, suy nghĩ của các em và gia đình của các em là vậy! Họ không hiểu rằng, chính cái chữ sẽ giúp con người thoát khỏi cuộc sống nghèo khó hiện tại, giúp con người hoạch định tương lai. Cho nên vào thời điểm mùa màng, số lượng học sinh trên lớp học rất ít. Một số học sinh có ý thức học tập, đến mùa màng, cũng xin phép giáo viên chủ nhiệm, nhà trường nghỉ phép vài hôm, nhưng rồi các em cũng quên trở lại trường khi mùa hái cà phê kết thúc. Giáo viên lại phải nhọc công tìm đến tận nhà, vận động các em đến trường.

9

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

Con người là chủ thể nhận thức. Nhận biết về bản thân, về mọi vật xung quanh là sự sống bản năng của con người. Người dân tộc thiểu số luôn ý thức về nguồn gốc, về điều kiện sống, hoàn cảnh sống của mình. Chính điều này đã khiến cho học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số tiếp nhận những kiến thức về tiếng Việt khó khăn, tạo rào cản ngăn cách hoạt động sống của các em với môi trường xã hội rộng lớn, làm cho các em khó tiếp xúc, hòa nhập cộng đồng. Nhìn ra được cái hạn chế, điều tốt đẹp của bản thân là con người đã phát triển ở một mức nào đó về nhận thức. Nghĩa là con người đã biết đặt mình trong nhiều mối quan hệ trong xã hội. Ý thức là nguồn động viên cho sự vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh thực tại nhưng cũng có ý thức tạo cho con người tính mặc cảm, tự ty thân thế, số phận, làm thui chột hao mòn năng lực, tri thức bản thân. Học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số đến trường trong tâm thế “hèn mọn” đó. Các em cũng đã biết nhìn ngắm những trang phục của các bạn học sinh người Kinh, nhìn lại trang phục của mình. Nhiều em học sinh đến trường bằng những đôi dép cũ kỹ, hoặc trong trang phục không lành lặn, hay với những đồng phục bắt buộc nhàu nát mà các em không chỉ dành cho đến trường, hay cùng với những cuốn tập bị bỏ quên ngay sau khi rời lớp. Tâm tư ấy cũng phần nào làm cho tinh thần học tiếng Việt của các em học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số bị suy giảm. Như đã phân tích ở trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các em một môi trường học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trong các em ý thức học tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi là điều hiển nhiên. Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây dựng bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt là các em rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với việc kiềm hãm sự phát triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu lo lắng cho mỗi giờ đến lớp, “sợ” phải đến trường. Học tập lúc này là công việc quá khó khăn đối với các em. Đối với người dân tộc Ê-đê, không gian sống của họ rất đặc trưng, không có ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và đương nhiên sẽ không có không gian sống cá nhân. Đây chính là đặc trưng văn hóa của người dân tộc Tây Nguyên. Không gian sống đặc thù này của người Tây Nguyên khắc sâu trong các em về truyền thống văn hóa, về cội nguồn. Chúng ta nhận biết không gian sống đặc biệt ấy qua kiến trúc nhà ở của họ, một không gian chung cho tất cả những người trong gia đình. Chính vì vậy, việc tạo một không gian học tập cho học sinh là điều không thể. Hoạt động sống này đã không tạo điều kiện học tập cho các em, mà còn làm cho chất lượng học tập của các em ngày càng giảm sút. Đối với các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản lý, hay do

10

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

11

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

không nên ép buô êc các học sinh đó phải trả lời. Có thể tìm hiểu về những học sinh này qua các bạn cùng lớp, cùng địa bàn. Cần kiên trì trong mô êt số trường hợp cụ thể. 3.2.2. Tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái và tôn trọng Môi trường tâm lý thoải mái trong học tập và hoạt động sẽ tạo điều kiện cho HS tham gia hiệu quả hơn vào bài học và các hoạt động của lớp học nói chung. Nó còn góp phần kiến tạo nên một bầu không khí tâm lý, tinh thần hài hòa, cân bằng trong lớp học, giúp HS được làm quen với một “xã hội thu nhỏ” lành mạnh, có văn hóa, có sự tôn trọng và chia sẻ của mọi thành viên. Điều này không chỉ giúp ích cho quá trình học tập trong nhà trường, mà còn mang lại lợi ích thiết thực về sau khi các em gia nhập cuộc sống của những người trưởng thành, thực sự tham gia vào môi trường xã hội rộng lớn. GV cũng thu nhận được nhiều lợi ích nếu cùng HS tạo ra được một môi trường tâm lí thuận lợi cho việc học tập, như: dễ dàng hơn trong quản lý hành vi và hoạt động của HS, huy động được HS tham gia tốt hơn vào quá trình học tập, HS đạt được kết quả học tập tích cực hơn, xây dựng được tập thể lớp đoàn kết, giúp đỡ, giúp GV quản lý lớp hiệu quả hơn,… Về phía nhà trường nói chung, một môi trường học tập thoải mái, tin cậy, và hứng thú mà các lớp học kiến tạo được sẽ mang lại cho nhà trường một bầu không khí sư phạm lành mạnh, tạo điều kiện lý tưởng nhất cho mọi hoạt động của HS, GV, cán bộ nhà trường cũng như sự tham gia của phụ huynh HS. Đây chính là một trong những điều kiện cốt lõi để thực hiện chủ trương “trường học thân thiện, HS tích cực”, làm cho mỗi một ngày tới trường của cả HS và GV đều là một ngày hứng thú, hiệu quả. Một số cách thức tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái, tin tưởng, tôn trọng trong lớp học: – Nỗ lực xây dựng, duy trì lòng tin của HS với GV và với tập thể lớp ngay từ những ngày đầu tiếp cận lớp học: Lòng tin là một trong những cơ sở quan trọng cho bất kỳ hoạt động tập thể, hoạt động nhóm nào giữa các cá nhân. Một số GV, do vị trí và quyền lực nhất định của mình, có thể làm cho HS cảm thấy sợ và nể, nhưng không được các em tin tưởng, yêu quí, và ngược lại, có những GV hết sức bình thường nhưng luôn được các em tìm đến chia sẻ mọi điều khó khăn, khúc mắc. Vì vậy, có thể nói tạo dựng được lòng tin của HS đối với mình tức là GV đã xây dựng được nền tảng quan trọng nhất của công việc quản lý lớp học và kiến tạo bầu không khí tâm lý, tinh thần thoải mái, tin cậy trong tập thể lớp. Thiếu sự tin tưởng ở GV, HS sẽ chỉ thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ GV đề ra vì trách nhiệm hoặc sự phục tùng mà thiếu vắng yếu tố nhiệt huyết, tình yêu và sự tận tụy đối với công việc được giao.

12

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

13

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

– Cá nhân hóa quá trình dạy học và GD, đặc biệt lưu tâm đến những điểm đặc trưng về văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh… của HSDTTS. Việc cá nhân hóa hoạt động dạy học và GD phải dựa trên cơ sở hiểu biết về phong cách học tập của những HS khác nhau cũng như hoàn cảnh, điều kiện sống của từng em. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh kết quả học tập và khả năng lĩnh hội kiến thức của HS phụ thuộc một phần đáng kể vào phong cách học tập cá nhân, như có em học tốt nhất với hình ảnh, biểu tượng, có em lại thể hiện ưu thế với ngôn ngữ, cách diễn đạt, v.v. Nếu nắm bắt được những đặc điểm này của từng nhóm HS trong lớp, GV có thể tạo điều kiện tốt nhất cho mỗi em phát triển khả năng, thế mạnh của mình trong học tập cũng như hoạt động tập thể, giúp các em tự tin và ngày càng tiến bộ hơn. Bên cạnh đó, những hiểu biết của GV về đặc điểm văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng… của các DTTS trong địa phương cũng sẽ là một thế mạnh giúp GV tiếp cận HS của mình tốt hơn, quản lý lớp học hiệu quả hơn, tạo được sự tin cậy và chia sẻ đối với nhóm HSDTTS trong lớp. Việc tìm hiểu này đương nhiên sẽ tốn thời gian và công sức của GV, song hiệu quả mang lại đối với lớp và với bản thân công tác quản lý lớp học của người GV thì không thể phủ nhận. – Bài trí, sắp xếp không gian và bối cảnh lớp học theo phong cách thân thiện với người học, tích cực, sáng tạo. Không chỉ đơn thuần là nơi diễn ra các hoạt động học tập hàng ngày, không gian lớp học tác động không nhỏ tới tâm lý, tinh thần, động cơ và hứng thú học tập của HS. Bàn ghế trong lớp nên bố trí theo các nhóm với khoảng từ 4-6 người để HS dễ dàng thực hiện các hoạt động học theo nhóm nhỏ. Bố trí những góc trưng bày nho nhỏ ở cuối lớp như góc thư viện, góc trò chơi, góc cây xanh, huy động HS tự cung cấp sản phẩm của mình để trang trí, bày biện cho các góc này, hoặc GV tìm cách liên hệ với các đơn vị trong trường như Đoàn thanh niên, thư viện trường… để yêu cầu hỗ trợ về nguồn tài liệu. GV nên hỏi ý kiến của chính HS trong việc bài trí lớp học và tôn trọng nguyện vọng, sáng kiến, ý tưởng riêng của các em trong sự hài hòa với điều kiện và qui định của nhà trường. Một không gian lớp học sinh động, hấp dẫn sẽ làm cho HS yêu quí lớp của mình hơn và cảm thấy vui thích, phấn khởi mỗi khi đến trường. – Kết hợp việc dạy học hàng ngày với các hoạt động “khởi động”, “thư giãn” nhỏ hoặc trò chơi đơn giản để tạo hứng thú học tập và tăng cường tinh thần đồng đội, tính hợp tác cũng như rèn luyện nhiều kỹ năng khác nhau cho HS. Một số thầy cô giáo chúng ta thường chỉ coi trọng chất lượng giờ giảng dạy trên lớp mà không chú ý nhiều đến những dạng hoạt động “xây dựng tinh thần nhóm” hoặc mang tính “khởi động”, “thư giãn”, giúp HS tạo cảm giác thỏai mái, hứng thú trước, trong, hoặc giữa các tiết học. Đó có thể là những trò chơi nho nhỏ, một vài động tác thể dục vui đơn giản, đôi ba câu đố vui/đố mẹo… được

14

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

15

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

Việc GV phát hiện ra những trở ngại, khó khăn của HS trong lớp và hỗ trợ các em vượt qua chúng sẽ tạo cho HS có cảm giác được bảo vệ, chăm sóc và quan tâm, giúp các em có thêm nghị lực vượt khó. Bên cạnh đó, khi được GV chú ý đến những vấn đề khó khăn của mình, bản thân HS có thêm động lực để cố gắng hơn trong học tập và rèn luyện. Đồng thời, GV cũng được HS thêm yêu mến, tin cậy để có thể sẵn lòng chia sẻ nhiều hơn những khó khăn, khúc mắc của mình trong cuộc sống hoặc học tập. Quan tâm đến khó khăn của HS còn góp phần giúp GV xây dựng và duy trì được một tập thể lớp đoàn kết, tương trợ, nơi HS cảm thấy mình là một phần có ý nghĩa của cộng đồng lớp học và tích cực tham gia các hoạt động chung. Từ đó, từng bước hình thành, củng cố tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể cho HS. Điều này càng có ý nghĩa đối với nhóm thiểu số HS dân tộc thường hay mặc cảm, tự ti và ngại giao tiếp trong một tập thể có đông HS người Kinh hơn.

Một số cách thức thực hiện việc quan tâm đến những khó khăn của học sinh – Lập hồ sơ chi tiết của từng HS và thường xuyên cập nhật, bổ sung. Hồ sơ HS ở đây không chỉ thuần túy là một bản ‘trích ngang’ những thông tin về hoàn cảnh cá nhân, gia đình của HS như quan niệm truyền thống, mà còn bao gồm cả các sản phẩm trong quá trình học tập và hoạt động của HS như bài tập/bài thi các môn học, các bản thu hoạch, tranh vẽ sáng tác, bài thơ dự thi, bài báo tường, các nhận xét của những GV khác về HS, bằng chứng về việc khen thưởng/kỷ luật, v.v. Túi hồ sơ hoàn thiện của một HS chính là “cửa sổ để quan sát tư duy và quá trình học tập của HS”, mà GV thông qua đó có thể nhìn rõ hơn bức tranh sinh động, chân thực về các HS của mình bao gồm cả những thuận lợi, khó khăn mà em đó gặp phải trong học tập và cuộc sống. Việc xây dựng, quản lý và cập nhật hồ sơ HS có thể hiệu quả hơn nếu GV huy động được sự tham gia của hội đồng tự quản lớp trong công việc này, vì hơn ai hết, HS hiểu rõ hoàn cảnh và một số khó khăn, trở ngại trong cuộc sống của bạn bè mình. Hội đồng tự quản lớp hoặc một số HS có trách nhiệm trong lớp học có thể cung cấp những nguồn thông tin xác thực, cập nhật nhất về hoàn cảnh, điều kiện, những thay đổi trong cuộc sống của các thành viên trong lớp, giúp GV hiểu rõ hơn về tập thể HS của mình và những khó khăn mà các em phải đối mặt. Dựa trên thông tin có được về từng HS, GV có thể đánh dấu những hồ sơ, trường hợp đặc biệt cần sự quan tâm riêng để có sự hỗ trợ sau này trong quá trình giảng dạy, tiếp cận em

16

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

17

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

– Tăng cường sự tham gia và ý thức trách nhiệm của hội đồng tự quản và tập thể HS để HS có ý thức tự quan tâm đến thành viên lớp mình và tìm cách hỗ trợ nhau. Trong một số trường hợp nhất định, HS tự giúp nhau sẽ hiệu quả và thiết thực nhất. Giao trách nhiệm cụ thể cho Ban cán sự lớp trong việc tìm hiểu hoàn cảnh một số HS đặc biệt trong lớp để có hướng giúp đỡ hiệu quả. Tuy nhiên việc tìm hiểu cần tế nhị, tránh gây tổn thương, mặc cảm đến em HS đang gặp khó khăn. Bên cạnh đó, GV cũng không thể phó mặc hoàn toàn việc này cho Ban cán sự lớp, mà cần thường xuyên theo dõi, đôn đốc và giám sát công việc của các em để có những chỉ dẫn hoặc can thiệp kịp thời. – Chú trọng xây dựng và duy trì bầu không khí tập thể lớp học đoàn kết thân ái, luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Muốn vậy, trước hết bản thân GV phải làm gương tốt cho HS bằng cách luôn cư xử đúng mực với người khác, tận tình giúp đỡ người gặp khó khăn bất kể đó là đồng nghiệp, HS, hay những hoàn cảnh không may khác xung quanh mình. HS rất có ấn tượng với cách cư xử, lối sống hàng ngày của GV, do vậy một gương GV nhân ái, luôn biết quan tâm giúp đỡ những người xung quanh sẽ là bài học ‘sống’ giá trị nhất để tác động tới các em. Mặt khác, GV có thể phối hợp với Đoàn thanh niên và Ban cán sự lớp để phát động những phong trào, hoạt động tương thân tương ái trong lớp, trường hoặc có phạm vi rộng hơn nhà trường như: thu gom và trao đổi đồ dùng học tập, quần áo cũ; tiết kiệm tiền ‘bỏ ống’ cho các bạn khó khăn; tổ chức thăm hỏi, tặng quà định kì những gia đình có hoàn cảnh éo le, bất hạnh; tham gia hoặc khởi xướng các hoạt động phục vụ lợi ích cộng đồng như trồng cây, giúp đỡ người già, người neo đơn, giúp nạn nhân chất độc da cam, lao động công ích trong các công trình công cộng,… Thông qua các hoạt động thiện nguyện trợ giúp những người khó khăn trong lớp, trường của mình cũng như ngoài xã hội như vậy, HS sẽ phát triển được những nét tính cách nhân ái, bao dung, biết quan tâm giúp đỡ người khác. Đồng thời, việc cùng nhau tổ chức hoạt động tập thể còn giúp các em tăng cường tinh thần đồng đội, hợp tác hiệu quả – những yếu tố quan trọng giúp xây dựng một tập thể lớp thân ái, đoàn kết. – Trang bị cho HS, và Hội đồng tự quản lớp những kỹ năng sống quan trọng để biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợp và quan tâm đến người khác, như các kỹ năng giao tiếp, tự nhận thức, hợp tác, thương lượng, làm việc nhóm, ra quyết định, giải quyết vấn đề, lãnh đạo nhóm… Để làm được điều đó, trước hết GV cũng phải có hiểu biết, tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng này, hoặc phải tham gia vào những khóa tập huấn chuyên sâu về kỹ năng sống, sau đó biết cách tổ chức các hoạt động cụ thể để huấn luyện lại cho HS.

18

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

19

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GV: Thái Thị Luận

Tổ chức các nhóm học tâ êp, đôi bạn cùng tiến Học nhóm là một phần quan trọng để tạo ra một lớp học hiệu quả. Tuy nhiên, đây không chỉ là học sinh “làm việc cùng nhau” đơn thuần mà là cùng hợp tác học tập dưới hình thức học nhóm. Mục tiêu chính yếu của học nhóm là giúp học sinh chủ động học tập để đạt được một mục tiêu học tập chung. Việc tạo nhóm học tập như vậy cho phép học sinh làm việc cùng nhau để tối ưu hóa việc học tập của mình và của các bạn khác trong nhóm. Thông qua việc học nhóm người học có thể được: – Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tạo cảm giác thoải mái cho người học: Xuyên suốt quá trình học nhóm là các hoạt động học tập mang tính hợp tác. Khi học theo nhóm, người học cảm thấy thoải mái, không bị căng thẳng như lúc học một mình. Các em nhận được sự hỗ trợ, hợp tác của những người trong nhóm nên sẽ trở nên tự tin hơn và vì thế, việc học của các em sẽ đạt hiệu quả cao hơn. – Phát triển kỹ năng giao tiếp: Bên cạnh việc đạt được mục tiêu học tập là phát triển kỹ năng ngôn ngữ, người học tham gia vào các hoạt động học tập của nhóm còn có điều kiện để phát triển kỹ năng giao tiếp. Các em sẽ học được cách trình bày và bảo vệ quan điểm của mình, biết cách thuyết phục và thương lượng trong việc giải quyết vấn đề. Các em trở nên mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp. Kỹ năng giao tiếp của các em vì thế mà ngày càng được hoàn thiện đáng kể. – Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề: Trong khi học nhóm, người học phải tham gia vào các hoạt động như thuyết trình, thảo luận, tranh luận, giải quyết vấn đề,… Các hoạt động này đòi hỏi người học phải sáng tạo, lôgic, linh hoạt và nhạy bén. Người học còn phải đánh giá các hoạt động mà nhóm mình thực hiện để có những điều chỉnh hợp lý. Các hoạt động nêu trên đã giúp người học phát triển tư duy sáng tạo cũng như khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề. Để việc học nhóm của học sinh có hiệu quả, trước hết giáo viên cần giúp từng học sinh xác định trách nhiệm của bản thân, ngoài ra các thành viên trong nhóm cần có ý thức tự giác: tự giác về thời gian, bài vở, tự giác “phát biểu”… – Hãy hoàn thành tất cả các bài tập có thể, dàn ý bài học thuộc và các bài đọc tham khảo, đối với các môn xã hội. – Trình bày những gì mình đã chuẩn bị và biết đặt ra các câu hỏi

20

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ - Căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục vệ sinh môi trường, rèn kĩ năng sống cho học sinh. - Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình và có mảng kiến thức dành cho đối tượng học sinh khá - giỏi. Ngoài ra trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tiểu học căn cứ vào những nhận thức mới của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện ở các em, căn cứ vào năng lực tổ chức, thiết kế và những hoạt động trong quá trình dạy học ở giáo viên. Vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi phuương pháp dạy học truyền thống. Mà họ không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng sai mê học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập, tạo ra sự phát triển mới để nâng cao hiệu quả giáo dục phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ được sự ổn định trong hoạt động dạy học. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được. Đồng thời tạo ra được sự phối hợp chặc chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của đơn vị. Tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu "Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường tiểu học" nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng dạy -học và đẩy mạnh công tác mũi nhọn của đơn vị. PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Thực trạng công tác dạy và học trong trường tiểu học 1 Sông Đốc. 1.1.1. Ưu điểm Mặc dù cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn chế nhưng tập thể cán bộ giáo viên Trường tiểu học 1 Sông Đốc đã không ngừng phấn đấu để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và đặc biệt là chú trọng nhất về nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Có 100% cán bộ - giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn trong hè nên nắm vững cách thực hiện đổi mới phương pháp dạy, dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới, dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học; đổi mới cách đánh giá học sinh, coi trọng sự tiến bộ của học sinh. Ngoài nắm vững chuyên môn giáo viên còn nghiên cứu, tìm hiểu về đối tượng học sinh, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung chương trình của từng môn học, mạnh dạn đăng kí chỉ tiêu phấn đấu trên đối tượng học sinh của mình. Cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế nhưng giáo viên đã tận dụng tạo môi trường học tập, môi trường vui chơi an toàn cho học sinh. Học sinh có đủ sách giáo khoa và đồ dùng học tập, hăng hái tham gia xây dựng bài học. Ngày nay, công tác xã hội hóa giáo dục có sự chuyển biến mới. Đa số phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình. Đồng thời đã đóng góp không nhỏ về tiền của để mua sắm trang thiết bị dạy học trong nhà trường, năng cấp cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt cho việc vui chơi và học tập của học sinh. 1.1.2. Một số hạn chế và nguyên nhân hạn chế: Năm học 2001-2002 bắt đầu thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông bắt đầu từ lớp 1. Tất cả giáo viên được tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về dạy học theo chương trình mới một cách kĩ lưỡng. Nhưng khi vào thực tế giảng dạy nhiều giáo viên còn lng túng nhất là khâu đổi mới phương pháp dạy học, dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên chỉ lo tập trung vào phần việc của mình, cứ lo sợ dạy không hết bài, học sinh không biết cứ như thế là vào tiết học giáo viên thao thao giảng bài, đọc cho học sinh chép nhũng nội dung cần ghi nhớ, yêu cầu các em về học thuộc lòng, có những giáo viên nhận thức được đổi mới phương pháp dạy học là dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dưới sự hướng dẫn, nêu vấn đề của người dạy, người học động não, tìm cách giải quyết vấn đề để chiếm lĩnh kiến thức mới, vận dụng kiến thức mới vào thực tiễn. Gắn liền với đổi mới phương pháp dạy học là việc sử dụng thiết bị dạy học, đồ dùng dạy học. Thế nhưng không ít giáo viên còn chưa sử dụng, chưa khai thác triệt để thiết bị, đồ dùng vào các tiết dạy mà chỉ dạy chay hoặc sử dụng khi có người dự giờ, khi sử dụng lại có những giáo viên sử dụng vụng về, rồi khai thác một cách qua loa, máy móc làm cho tiết học trở nên rời rạt, khô chán không phát huy được tính tích cực của học sinh. Không có thiết bị để ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, giáo viên chưa thoát li được sách giáo viên, sách tham khảo, mà còn có những giáo viên coi sách giáo viên như một pháp lệnh, không được xê dịch hay sửa đổi. Chép nguyên mục tiêu và các hoạt động trong sách mà không cần biết bài dạy đó có phù hợp với học sinh của mình không mà không bỏ thời gian ra nghiên cứu nội dung bài học sách giáo khoa, liên hệ từng đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch dạy học cho từng môn học, hay thiết kế bài dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh trong lớp. không nghiên cứu nội dung sách giáo khoa để xác định mảng kiến thức trọng tâm của bài, liên hệ sự tiếp thu của học sinh rồi lựa chon phương pháp dạy học để phát huy tích cực sự vận động suy nghĩ của từng đối tượng học sinh tránh nhàm chán ở học sinh. Vì trong lớp học có tới bốn khả năng tiếp thu và bốn khả năng nhận thức cụ thể như: học sinh giỏi, học sinh khá, học sinh trung bình, học sinh yếu. Ngoài ra trong qua trình lập kế hoạch bài dạy do không nghiên cứu kĩ lưỡng nội dung bài nên việc chuẩn bị trang thiết bị, đồ dùng dạy học không có hoặc không phù hợp, thậm chí có nêu ở chuẩn bị trong giáo án mà qua hết một tiết dạy không thấy giáo viên sử dụng ở hoạt động nào (chổ nào). Bên cạnh những việc tồn tại ở khâu soạn giảng thì cũng không thể không đề cập đến vấn đề kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh. Một số giáo viên dù nắm được, hiểu được hướng dẫn chỉ đạo của thông tư 32 của Bộ Giáo dục và Đào tạo vầ đánh giá xếp loại học sinh, Quyết định số 16 quy định về chuẩn kiến thúc kĩ năng các môn học ở bậc tiểu học ấy thế nhưng trong quá trình đánh giá họ không căn cứ vào những tiêu chí hướng dẫn của văn bản để đánh giá, mà đánh giá chỉ dựa vào cảm tính, quan sát chung chung, thiếu căn cứ, thiếu tính chính xác. Thậm chí việc kiểm tra, đanh giá còn dựa trên tình cảm, cả nể mà đánh giá không đúng thực lực của học sinh. Và mặc dù trong những năm học vừa qua các trường chỉ đạo thực hiện tốt cuộc vận động hai không. Vậy mà còn không ít giáo viên vẫn còn để xảy ra tiêu cực trong kiểm tra, trong đánh giá xếp loại nhất là trong xét khen thưởng ở cuối năm. Đến vào đầu năm học mới có rất nhiều học sinh bị hụt hẫng về kiến thức nên rất khó cho việc giảng dạy của giáo viên ngoài ra còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục. Mặt khác giáo viên chưa nghiên cứu sâu về tâm lý từng học sinh để có biện pháp giảng dạy và giáo dục tốt hơn. Đa số học sinh còn phụ thuộc vào khuôn mẫu, bắc chước, chưa có ý thức tự giác học tập, lại được phụ huynh đồng thuận mua sắm cho sách giải, sách tham khảo, các em lại sao chép. Do còn không ít phụ huynh thiếu trách nhiệm, thiếu sự phối hợp để giáo dục học sinh, gây sức ép không nhỏ đối với giáo viên. II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC CỦA Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC SÔNG ĐỐC 1. 1. Biện pháp xây dựng đội ngũ trong tập thể sư phạm. Trường học - tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục - nơi tập trung những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Mà giáo viên là lực lượng nồng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; là người không chỉ thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, phụ huynh học sinh mà còn thể hiện nhiệm vụ với xã hội, với vân mệnh và tương lai của đất nước. Chính vì vậy công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường là vấn đề quan trọng. Vì có một tập thể đoàn kết thì mới có một tập thể vững mạnh, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học. Mỗi cá nhân là một thành viên tích cực nêu cao quan điểm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến đóng góp, xây dựng cho đồng chí, đồng đội, cùng phát triển về công tác chuyên môn (về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, về biện pháp giáo dục học sinh,), quan tâm giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn cùng nhau hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, có một tập thể đoàn kết mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của năm học. Có sự đoàn kết, thống nhất như vậy sẽ góp phàn nâng cao nhận thức về chuyên môn, nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích giáo viên đọc sách báo, tham khảo tài liệu về chính trị, văn hóa, pháp luật... Phân công chuyên môn phù hợp với năng lực, sở trường của từng giáo viên, tạo mọi điều kiên thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công. Đi kèm theo công tác phân công chính là công tác kiểm tra đánh giá kết quả lao động của cá nhân, tập thể được phân công, để đánh giá mức độ hoàn thành công việc như thế nào. Từ đó có bài học kinh nghiệm cho bản thân đồng thời kịp thời phát hiện năng lực của giáo viên và có kế hoạch bồi dương phát huy hoặc khuyến khích giáo viên tiến bộ. Thường xuyên mở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các buổi thao giảng, phối hợp mở các buổi hội giảng trao đổi về phương pháp giảng dạy, biện pháp giáo dục học sinh. Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập, giáo lưu trao đổi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy. Thực hiện tốt công tác dân chủ trong nhà trường. có biện pháp, chế độ tùy theo kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ được phân công, tham mưu tốt với ban ngành đoàn thể đảm bảo quyền lợi của anh chị em trong lao động. 2. Biện pháp về hoạt động giảng dạy của giáo viên. 2.1. Biện pháp xây dựng nề nếp, kỷ cương trong hoạt động giảng dạy của giáo viên Xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường. Quy chế chuyên môn trong nhà trường là một trong những công cụ để đánh giá quá trình lao động của người giáo viên. Việc thực hiện tốt quy chế chuyên môn trong nhà trường của giáo viên là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy. - Trên cơ sở: Quyết định 14 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học ngày 04 tháng 05 năm 2007 của Quyết định 16 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao về việc Vi phạm đạo đức nhà giáo ngày 16 tháng 04 năm 2008; căn cứ điều lệ trường tiểu học; căn cứ văn bản chỉ đao của lãnh đạo Phòng GD&ĐT và căn cứ tình hình thực tế của đơn vị. Hiệu trưởng xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường như quy định về đạo đức, tác phong sư phạm, tác phong của nhà giáo, quy định giờ ra vào lớp, quy định về hồ sơ sổ sách, lịch trình duyệt các kế hoạch. Giáo viên soạn giảng đủ môn, đủ tiết, số tiết dự giờ trên tuần ( rút kinh nghiệm,dự giờ để đánh giá), số lần tham gia sinh hoạt chuyên môn.duy trì sĩ số lớp - Phát động phong trào Thi đua-Dạy tốt-Học tốt, tiến hành bàn giao số lượng, chất lượng (cụ thể từng đối tượng học sinh về lực học, về sở trường, về cá tính của học sinh) của lớp dưới lên lớp trên để giáo viên mới có cơ sở xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ trọng tâm của năm học, đăng kí chỉ tiêu phấn đấu, xây dựng kế hoạch giảng dạy. -Phối hợp với Ban chấp hành công đoàn phát động phong trào "Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm". qua đó vận động giáo viên chấp hành nghiêm túc quy chế chuyên môn của nhà trường. 2.2. Biện pháp chỉ đạo việc thực hiện chương trình và kế hoạch giảng dạy của cấp quản lí giáo dục: Việc tố chức thực hiện chương trình và xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường nên Hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở như: căn cứ các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, các chỉ thị của ngành, của địa phương, căn cứ vào đặc điểm tình hình của đơn vị để xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình sao cho vừa đảm bảo chất lượng, vừa đảm bảo hoàn thành chương trình theo tinh thần chỉ đạo ngành. Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh, biện pháp khắc phục, biên chế nội dung chương trình cho cả năm học và cho tùng thời điểm, lập thời khóa biểu cho các khối lớp, phân phối chương trình. Tập trung nghiên cứu kĩ các văn bản chỉ đạo về chuyên môn, nghiên cứu về nội dung chương trình sách giáo khoa, căn cứ đặc điểm tâm lí của trẻ. Hướng dẫn tổ chuyên môn, giáo viên phối hợp với kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch giảng dạy, kế hoạch hoạt động phù hợp với đối tượng học sinh. Thực hiện chương trình một cách vừa và đủ đảm bảo tham gia các hội thi mà cấp trên tổ chức, như thi viết chữ đẹp, thi học sinh giỏi, Toán tuổi thơ cấp huyện, cấp tỉnh đối với lớp 5... Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo điều lệ trường tiểu học, nội dung sinh hoạt đa dạng phong phú: trao đổi về phương pháp dạy học, trao đổi về kết quả nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa, trao đổi về phương pháp xác định mục tiêu của bài học - xác định mảng kiến thức trọng tâm của một bài, một nôm, trao đổi về biện pháp giáo dục học sinh hướng dẫn học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện. 2.3. Biện pháp chỉ đạo thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên và việc lựa chọn đồ dùng dạy học của giáo viên: Thiết kế bài dạy và chẩn bị giờ lên lớp của giáo viên là việc làm quan trọng, thực hiện quy chế chuyên môn trong trường tiểu học. Là khâu mà bất kì giáo viên trực tiếp giảng dạy nào cũng phải có, vì trong quá trình thiết kế bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp giúp giáo viên có sự chuẩn bị, sự nghiên cứu về nội dung, tuy nó chưa phải là dự kiến được hết những tình huống có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy để có biện pháp xử lí kịp thời đúng đắn. Và thiết kế bài dạy được xem là công cụ để thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, thể hiện sự sáng tạo của giáo viên và cũng là một trong những việc làm góp phần quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường. Do đó cần tập trung chỉ đạo việc thiết kế bài dạy và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên cụ thể như sau: -Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản về việc thiết kế bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông vào soạn giảng đến tơ khối, giáo viên. Kế hoạch bài giảng của giáo viên phải thể hiện: - Mục tiêu đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học dành cho đối tượng học sinh trong lớp. - Tăng cường trang bị về thiết bị, đồ dùng dạy học, khuyến khích gíao viên đẩy mạnh công nghệ thông tin vào giảng dạy. Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung bài, đồng thời trong quá trình chuẩn bị phải thể hiện được đồ dùng phục vụ cho người dạy và đồ dùng phục vụ cho người học. Vì đồ dùng dạy học rất quan trọng trong việc dạy học ở tiều học giúp học sinh nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Ngoài đồ dùng trực quan sinh động mà giáo viên đã chuẩn bị thì còn hình ảnh trực quan sinh động hơn là người giáo viên: cần có ngoại hình cân đối, giọng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, cử chỉ mềm mại, điệu bộ duyên dáng, thái độ ân cần sẽ thu hút sự chú ý học tập của học sinh cao hơn, tăng thêm sự hứng thú nhận thức của trẻ. - Nội dung cơ bản của kế hoạch phải thể hiện rõ hoạt động của thầy, hoạt động của trò, hoạt động trọng tâm của bài, dự kiến thời gian của từng hoạt động; mỗi hoạt động đều thể hiện được mục tiêu, nhiệm vụ, nêu cách tổ chức của thầy, dự kiến câu trả lời của học sinh và kết luận của giáo viên. Không ghi những vấn đề không cần thiết. Nội dung giáo án ngắn gọn, xúc tích đảm bảo nội dung trọng tâm của bài, logic khoa học, lựa chọn phương pháp giảng dạy (thể hiện sự hệ thống việc làm của thầy - trò, hình thức tổ chức phù hợp với môn học, lớp học với đối tượng học sinh). Quy định thời gian kí duyệt kế hoạch giảng dạy của giáo viên trước khi lên lớp thực hiện tiết dạy. 2.4. Biện pháp quản lí giờ lên lớp của giáo viên: Giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học để thực hiện mục tiêu dạy học. Trong nhà trường tiểu học hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động là hoạt động chính. Hiện nay quá trình dạy học chủ yếu đa số là diễn ra trong lớp học. Giờ lên lớp quyết định chất lượng dạy học cơ bản, trong đó giáo viên là người trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm. Do vậy, giờ lên lớp thể hiện rõ nhất trách nhiệm và khả năng của giáo viên. Vì vậy hiệu trưởng quản lí giờ lên lớp của giáo viên như: - Tổ chức thực hiện tốt kỉ luật lao động trong nhà trường, khuyến khích giáo viên thực hiện tốt giờ lên lớp. - Thực hiện chương trình đảm bảo đúng quy chế chuyên môn, quy định của ngành. Duy trì và thực hiện tốt giờ lên lớp. 2.5. Biện pháp quản lí việc dự giờ của giáo viên: Dự giờ là công việc đặc thù, cơ bản, là biện pháp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho mỗi cá nhân giáo viên một cách hiệu quả nhất. Căn cứ vào điều lệ Trường tiểu học thì đối với giáo viên số tiết dự giờ ít nhất 1 tiết/tuần, đối với tổ chuyên môn ít nhất 2 tiết/tuần. Để công tác dự giờ có hiệu quả, trước khi dự giờ giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài, xác định mục tiêu, xác định mảng kiến

Bạn đang xem bài viết Trường Th Đắk Dục: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh (Tiểu Học) Dân Tộc Thiểu Số trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!