Xem Nhiều 2/2023 #️ Tủy Răng: Mô Đặc Biệt Của Cấu Trúc Răng # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tủy Răng: Mô Đặc Biệt Của Cấu Trúc Răng # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tủy Răng: Mô Đặc Biệt Của Cấu Trúc Răng mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tủy răng là một mô liên kết đặc biệt, giàu mạch máu, nằm bên trong thân và chân răng (hốc tủy). Ngà và tủy hình thành nên một tổng thể về mặt phôi thai cũng như chức năng: đơn vị (phức hợp) ngà – tủy. Mô tủy có phản ứng với các kích thích và đảm nhận chức năng sống của ngà, cũng như toàn bộ răng. Sức sống của phức hợp ngà – tủy răng, cả khi khỏe mạnh và sau tổn thương, phụ thuộc vào hoạt động của các tế bào tủy răng và quá trình truyền tín hiệu điều hòa biểu hiện tế bào.

1. Sự hình thành tủy răng

Tủy răng có nguồn gốc ngoại trung mô, phát triển từ nhú răng tương tự như ngà răng.

1.1. Các giai đoạn phát triển chính của răng

Nụ.

Chỏm.

Chuông.

Tạo thân răng.

Những dấu hiệu đầu tiên của sự phát triển răng được biết sớm nhất là vào tuần thứ 6 của thai kỳ. Biểu mô miệng bắt đầu nhân lên và xâm lấn vào các tế bào ngoại trung mô tạo ra lá răng. Lá răng là nguồn gốc của nụ răng.

Giai đoạn nụ tiến lên giai đoạn chỏm khi biểu mô tạo thành cơ quan men. Khi cơ quan men đạt tới giai đoạn chuông muộn và bắt đầu có sự hình thành mô cứng, thì nhú răng bắt đầu có được dạng cấu trúc điển hình. Các tế bào ngoại trung mô ngưng tụ hơn nữa và trở thành nhú răng. Cơ quan biểu mô men cùng với nhú răng và nang tạo thành mầm răng.

1.2. Nhú răng là nguồn gốc của tủy răng

Các tế bào ở ngoại vi của nhú răng trải qua quá trình phân chia và biệt hóa tế bào để trở thành nguyên bào ngà. Khối tế bào nhú răng chủ yếu là tế bào trung mô chưa biệt hóa, dạng hình sao, mật độ cao. Vào cuối giai đoạn chuông, các nhánh động mạch xương ổ phát triển vào nhú răng, phân chia thành các động mạch nhỏ. Sau đó hình thành hệ mao mạch nằm ở vùng ngoại vi nhú răng.

Trong quá trình tạo ngà, mầm răng dạng chuông lớn dần, đạt đến kích thước và hình dạng thân răng tương lai. Trong khi đó, nhú răng cũng lớn lên nhờ sự tăng sinh tế bào. Sau đó, thể tích nhú răng giảm dần do lớp ngà dày lên. Trong quá trình hình thành chân răng, mô nhú răng cũng tăng sinh dọc chiều dài chân răng. Đồng thời bị thu hẹp do khối ngà dày lên.

2. Giải phẫu và hình dạng của hốc tủy, tủy răng

Khoang do ngà tạo thành chứa mô tủy được gọi là “hốc tủy”. Có thể phân chia thành:

Buồng tủy

Là khoang chứa tủy ở phần thân răng, có hình dạng tương tự hình dạng thân răng. Nằm trong buồng tủy là tủy buồng. Buồng tủy có 4 thành. Lớp ngà bên trên buồng tủy, sát mặt nhai tạo trần buồng tủy. Phần ngà giữa các chân răng tạo sàn buồng tủy có ở các răng nhiều chân. Trần buồng tủy lồi lõm, có các sừng tủy ứng với các múi hoặc các thùy. Sàn buồng tủy có các lỗ ống tủy (lỗ thông giữa buồng tủy và ống tủy).

Ống tủy chân

Là khoang chứa tủy ở chân răng. Nằm trong ống tủy là tủy chân. Ống tủy có hình ống nhỏ, chạy dọc theo giữa chân răng. Ở ngang mức cổ răng, ống tủy hơi thắt lại. Ống tủy tận hết ở vùng chóp bởi một hoặc nhiều lỗ chóp. Trên các tiêu bản khử calci và bơm chất màu, ống tủy thường thể hiện dưới dạng hệ thống. Trong đó mỗi chân răng có thể có một hoặc nhiều ống tủy, nhiều ống tủy phụ.

Thể tích hốc tủy của các răng vĩnh viễn thay đổi theo hình dạng, kích thước của răng, số lượng ống tủy. Tuổi càng tăng thì thể tích hốc tủy càng thu hẹp lại. Sự thu hẹp diễn ra nhiều ở vùng gần sàn và sừng tủy buồng, ít ở thành bên. Đồng thời cũng diễn ra sự thu hẹp của đường kính ống tủy chân và lỗ chóp.

Do đó, các răng mới mọc, lỗ chóp thường mở rộng. Các răng đã tồn tại một thời gian trên cung hàm và chân răng đã hoàn thành, lỗ chóp thường hẹp và có dạng delta. Tham khảo bài viết: Nướu răng: Mô mềm quan trọng bao quanh răng.

Các ống tủy nằm theo trục của các chân răng. Chúng rất thay đổi về hình dạng, số lượng và đường đi. Điều này cho thấy sự đa dạng của xoang tủy. Khi cắt ngang có thể thấy ống tủy tròn, dẹt hay elip. Các chân răng tròn hay dạng chóp thường chỉ có một ống tủy. Trong khi có các chân răng dẹp hay elip thường có nhiều ống tủy.

3. Cấu trúc mô học tủy răng

Mô tủy là 1 mô liên kết lỏng lẻo bao gồm:

Tế bào.

Sợi và chất căn bản.

Mạch máu.

Mạch bạch huyết.

Thần kinh.

3.1. Thành phần tế bào

Nguyên bào ngà

Ở tủy còn non, các nguyên bào ngà nằm ở vùng ngoại vi của tủy, dọc theo lớp tiền ngà. Vùng thân răng, nguyên bào ngà tạo lớp tế bào trụ giả tầng. Ở vùng chuyển tiếp giữa thân và chân răng chúng vẫn có dạng trụ giả tầng nhưng thay đổi về hình dạng và cách sắp xếp. Khoảng phần ba giữa chân răng chún có dạng khối vuông hoặc chóp. Ở phần ba chóp: nguyên bào ngà trở nên ngắn và dẹt. Ở vùng chóp thì không còn thấy lớp nguyên bào ngà.

Nguyên bào sợi

Nhiều nhất trong tủy răng. Chúng phân bố đều khắp mô tủy. Vai trò của nguyên bào sợi là sản xuất và luân chuyển các chất gian bào:

+ Glycoprotein:fibronectin.

+ Glycosaminoglycan:chondroitin sulfate.

+ Heparin, dermatan sulfate.

+ Lưới và sợi collagen.

Các tế bào trung mô chưa biệt hóa

Là các tế bào dự trữ (thay thế). Chúng nằm ở vùng giàu tế bào dưới lớp nguyên bào ngà, áp sát thành ngoài các mạch máu nhỏ và mao mạch. Vai trò của các tế bào trung mô chưa biệt hóa là:

+ Thay thế các nguyên bào ngà chết tạo ngà thứ phát.

+ Trưởng thành thành đại thực bào, có chức năng của nguyên bào sợi, nguyên bào xương.

Các loại tế bào khác

Mô bào thuộc hệ thống thực bào đơn nhân đến từ tủy xương theo hệ mạch máu. Chúng ăn các thể cặn bã còn sống, có khả năng hoạt hóa thành đại thực bào khi quá trình viêm xảy ra.

3.2. Thành phần sợi và chất căn bản

Thành phần sợi là thành phần có nhiều nhất trong mô tủy bao gồm:

Lưới sợi ưa bạc

Có nhiều ở nhú rang trong giai đoạn tạo ngà, chúng cũng hiện diện ở tủy non. Tất cả các loại sợi ưa bạc ở nhú răng và tủy răng được gọi là sợi Korff (có độ dày khác vs sợi Korff ở ngà vỏ).

Các tơ, sợi

Bó sợi collagen

Mô tủy răng trước chứa nhiều collagen hơn so với răng cối nhỏ và răng cối lớn. Ở ống tủy sợi collagen xếp chặt chẽ hơn so với buồng tuỷ. Số lượng sợi collagen ổn định ở tủy thân sau 20 tuổi. Ngược lại ở tủy chân collagen bó bện với nhau do tăng bó sợi dày đặc. Ở phần gần chóp nhất, các sợi collagen sắp xếp dày đặc. Khoảng 30 – 45% sợi collagen của tủy răng chứa collagen tuýp III.

Chất căn bản: Là chất bao bọc các thành phần tế bào và sợi của tủy răng. Chất căn bản chứa nhiều nước, các glycosaminoglycan khác nhau, các glucoprotein, dermantan sulfate và các proteoglycan. Mật độ của các chất căn bản dày đặc khi còn là nhú răng, thấp hơn nhiều khi trở thành tủy răng.

3.3. Mạch máu

Sự phân bố

Mạch máu chính ra vào tủy qua lỗ chóp, có thể qua ống tủy phụ. Các mạch máu nhỏ tạo sự thông thương giữa tủy răng và màng nha chu. Mạch máu đi vào tủy răng là các động mạch nhỏ, hẹp và các mao mạch có thành mỏng, chạy ngược lên trung tâm tủy chân và phân chia rộng rãi. Các vòng mạch ngoại vi có thể xâm nhập vào lớp nguyên bào ngà (chủ yếu ở tủy thân).

Cấu trúc

Các vòng mạch tận của mạng mạch máu tủy nằm tương đối song song với trục nguyên bào ngà. Chúng có đường kính 4-8µm và có nhiều lỗ thủng tạo điều kiện để trao đổi phân tử diễn ra. Các tiểu tĩnh mạch và tĩnh mạch theo đám rối dưới nguyên bào ngà đi vào trung tâm tủy. Sau đó đi về phía chóp, dọc theo đường đi lên của các động mạch. Các thông động – tĩnh mạch độc lập với mạng mao mạch ngoại vi dưới nguyên bào ngà, có ở cả tủy thân và tủy chân.

Điều hòa tuần hoàn máu

Tốc độ dòng máu phụ thuộc vào đường kính của lòng mạch, số lượng nhánh và số lỗ thủng của mạch đó. Trong tủy, dòng máu được kiểm soát thông qua sự điều hòa co mạch của hệ giao cảm. Áp lực máu ở mao mạch có thể tới hơn 150 mmHg.

3.4. Mạch bạch huyết

Có thể phân biệt về mô học và siêu cấu trúc hệ bạch huyết của tủy (phân biệt giữa mao mạch bạch huyết với mao mạch hệ mạch máu). Do các mạch bạch huyết có thành nội mô rất mỏng, có van, không có màng đáy, và không có hồng cầu. Các mao mạch bạch huyết có đầu tận cùng lan vào vùng dưới nguyên bào ngà và chảy dồn vào các ống có thành mỏng và đường kính lớn nhỏ khác nhau. Các ống mạch này chạy xuyên qua tủy, dọc theo các mạch máu đến vùng chóp và thoát ra khỏi tủy qua lỗ chóp và ống tủy bên.

3.5. Thần kinh

Các sợi thần kinh đi vào tủy qua lỗ chóp cùng mạch máu và mạch bạch huyết .

Phân biệt các sợi TK có myelin và các sợi TK không có myelin:

Các sợi TK không myelin hầu hết chạy dọc theo hệ thần kinh tự trị. Chúng giúp chi phối cơ trơn thành mạch và điều hòa sự co mạch

Các sợi TK có myelin từ thần kinh tâm thoa: là các sợi cảm thụ thể hướng tâm giúp dẫn truyền “cảm giác đau”.

Sợi trục đến từ tủy chân nằm trong hai hoặc ba bó sợi thần kinh, mỗi bó sợi khoảng 150 sợi trục (đặc biệt có thể tới 1300 sợi).

3.6. Các vùng mô của tủy

Cấu trúc mô tủy không đồng nhất. Trong khi phần lớn mạch máu và thần kinh ở tủy chân có đường kính lớn thì các thành phần này lại có phân nhiều nhánh và tạo mạng lưới ở ngoại vi tủy thân răng. Ở tủy thân và phần lớn tủy chân có cấu trúc phân vùng, từ trung tâm ra ngoài gồm :

Khối tủy ở trung tâm.

Vùng ngoại vi:

Có thể phân biệt thành 3 lớp: Vùng lưỡng cực giàu tế bào, Vùng thưa nhân dưới nguyên bào ngà hay vùng Weil, Lớp nguyên bào ngà.

4. Đặc điểm chức năng của tủy

Về mặt hóa học, mô tủy chứa 75% nước, 25% chất hữu cơ. Áp lực bình thường trong tủy là từ 8 – 15mmHg, được điều hòa bằng cơ chế vận mạch. Khi tủy viêm, áp lực có thể tăng tới 35 mmHg hoặc hơn nữa. Điều này làm cho tủy răng, một cấu trúc gần như bị nhốt hoàn toàn trong buồng cứng, có thể nhanh chóng bị hủy hoại và không có khả năng hồi phục. Tham khảo cách: Fluor và vai trò đối với sức khỏe răng miệng

Mô tủy có nhiều chức năng:

Tủy đảm nhiệm chức năng nuôi dưỡng các nguyên bào ngà. Qua đó góp phần gián tiếp tạo ngà nguyên phát và thứ phát.

Tủy chứa lưới thần kinh chi phối cho ngà răng và ghi nhận cảm giác đau. Tất cả các kích thích về: áp lực, chấn thương, nóng, lạnh, hóa chất…đều ghi nhận là cảm giác “đau”.

Tủy cũng chứa một hệ thống tế bào phòng vệ dự bị. Các tế bào này được hoạt hóa bởi quá trình viêm, bệnh lý, hay hoại tử. Hệ thống này cũng hỗ trợ cho quá trình tạo ngà trong ống và ngà thứ phát thông qua hoạt động của nguyên bào ngà. Đồng thời nó cũng có thể thay thể các nguyên bào ngà chết. Nhờ đó ngà thứ phát có thể được tạo ra ngay khi lớp nguyên bào ngà đã bị hủy hoại.

Nhờ có hệ thống dày đặc các mạch máu đi vào, đi ra thông qua nhiều ống tủy mà tủy răng có khả năng kéo dài sự sống, ngay cả dưới những điều kiện khắc nghiệt (sâu răng, nhiễm trùng, hình thành áp xe), một khi mô tủy còn duy trì được đặc tính “trẻ” của nó.

Mô tủy “già” (tích tuổi) bị thoái hóa dần, mất đi một số khả năng chức năng. Các dấu hiệu thoái hóa bao gồm:

Thu hẹp dần khoang tủy.

Giảm từ từ nhưng đều đặn mật độ nguyên bào sợi ở tủy thân.

Tăng bó sợi collagen ở tủy chân.

Giảm số lượng mạch máu.

Hình thành sạn tủy, lắng đọng bất thường tinh thể phosphat calci…

Tủy răng là một cấu trúc đặc biệt quan trọng, chỉ huy các hoạt động sống của răng. Khi tủy bị chấn thương, nhiễm tùng sẽ gây ra các bệnh lý tủy có thể lây lan xuống vùng quanh chóp.

Bác sĩ Trương Mỹ Linh

Tủy Răng Và Chức Năng Của Tủy Răng?

Tủy răng theo như nghiên cứu là một loại tổ chức liên kết đặc biệt chứa nhiều mạch máu và thần kinh nằm trong một hốc giữa ngà răng (hốc tủy răng).

Các tổ chức tủy răng thông với cơ thể qua các lỗ rất nhỏ ở cuống răng.

Cấu tạo của răng từ ngoài vào trong có các lớp sau:

Men răng ở lớp ngoài cùng, ngà răng là lớp mô cứng thứ hai, hai lớp này có chức năng tạo nên hình thể răng và thực hiện chức năng ăn nhai, thẩm mỹ.

Lớp mô mềm trong cùng là tủy răng gồm có mạch máu và thần kinh tương ứng với hai chức năng là nuôi dưỡng và dẫn truyền cảm giác kích thích từ bên ngoài cho thân răng, cảm giác của tủy răng mang lại gồm cảm giác ê buốt và một phần cảm giác về lực, ở đó có động mạch, tĩnh mạch, thần kinh và các mao mạch bạch huyết của răng.

Tủy răng có cả ở thân răng và chân răng, ống tủy chân răng là những nhánh rất nhỏ và mỏng, phân nhánh từ buồng tủy phía trên xuống đến chóp chân răng.

Tủy răng có cấu trúc phức tạp và thay đổi trên từng răng, từng cá thể và từng độ tuổi.

Răng có thể có từ 1 đến 4 ống tủy, như răng cửa thường có một ống tủy, răng cối nhỏ có 2 ống tủy, nhưng răng cối lớn thì thường có 3 đến 4 ống tủy, răng người già thì tủy răng hay bị canxi hóa nên khi cần điều trị thì việc chữa tủy cũng rất khó khăn.

Tủy răng có chức năng cảm nhận và dẫn truyền các cảm giác nóng, lạnh, ê buốt, đau ,…khi có các kích thích tác động lên răng như quá trình ăn uống thức ăn thức uống nóng lạnh, sâu răng, chấn thương, hóa chất,..

Tham gia vào việc nuôi dưỡng và sửa chữa ngà răng.

Góp phần duy trì sự sống và lành mạnh của răng.

Được xem như “trái tim” của răng, được bảo vệ bởi tổ chức cứng ở xung quanh, vì thế không dễ bị viêm.

Cho nên cần vệ sinh răng miệng sạch sẽ để phòng ngừa sâu răng và các bệnh lý răng miệng, trong trường hợp bị viêm tủy bởi nguyên nhân nào đó thì khi đó cần chữa tủy răng để giữ lại răng.

Phòng khám Nha Khoa Quang Hưng với đội ngũ Thạc sĩ – Bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt, chuyên sâu, tận tâm trong chẩn đoán và điều trị các dịch vụ, máy móc điều trị tủy hiện đại, X-quang kỹ thuật số, kết quả chữa tủy chính xác, nhẹ nhàng, an toàn, không đau, vô trùng tuyệt đối.

Bạn hãy tìm một nha khoa uy tín tại hà nội, một nha khoa có thể chăm sóc răng miệng thật cẩn thận cho bạn gia đình bạn, những người thân của bạn và có thể luôn luôn đồng hành suốt cuộc đời.

Tầm Quan Trọng Của Tủy Răng Với Sức Khỏe Răng Miệng

Tủy răng là gì?

Tủy răng là một tổ chức liên kết đặc biệt chứa nhiều dây thần kinh và mạch máu nằm trong một hốc giữa ngà răng. Tủy răng có ở cả thân răng và chân răng (gọi là buồng tủy và ống tủy), được bao bọc bởi ngà răng và men răng. Ống tủy ở chân răng là những sợi mô rất nhỏ và mảnh, phân nhánh từ buồng tủy phía trên thân răng xuống đến chóp chân răng.

Một răng có thể có từ 1 đến 4 ống tủy, như răng cửa thường có một ống tủy, răng cối nhỏ có 2 ống tủy, nhưng răng cối lớn thì thường có 3 đến 4 ống tủy

Răng cửa thường có 1 ống tủy                               Răng cối có nhiều ống tủy hơn (2-4 ống tủy)

Mặc dù được bao bọc bởi 2 lớp men răng và ngà răng cứng, lớp mô mềm trong cùng là tủy răng có khả năng nuôi dưỡng và dẫn truyền cảm giác kích thích từ bên ngoài cho thân răng do cấu tạo phức tạp bên trong tủy răng bao gồm động mạch, tĩnh mạch, thần kinh và các mao mạch bạch huyết của răng

Tủy răng có cấu trúc phức tạp, khác nhau trên từng răng, từng cá thể và thay đổi theo từng độ tuổi.

Vai trò của tủy răng

Cảm nhận và dẫn truyền cảm giác khi có kích thích tác động lên răng, cảm giác của tủy răng mang lại bao gồm cảm giác ê buốt, nóng, lạnh, đau và cảm giác về lực tác động như chấn thương, sâu răng…

Tham gia nuôi dưỡng, sửa chữa ngà răng

Là “trái tim” của răng, duy trì sự sống và quyết định sự khỏe mạnh của răng

Răng đã chết tủy thì xem như răng đã chết và nó không còn tác dụng gì nữa. Khi răng không còn tủy để nuôi dưỡng thì nó sẽ không còn cảm nhận với mùi vị thức ăn, với cảm giác ăn nhai, nhiệt độ và đặc biệt là sẽ không có bất kỳ phản ứng nào với những kích thích từ bên ngoài.

Tủy Răng Có Tác Dụng Gì?

Tủy răng là gì? Tủy răng có cấu trúc phức tạp, khác nhau trên từng răng, từng cá thể và thay đổi theo từng độ tuổi được bảo vệ bởi hai lớp cứng của thân răng kể từ ngoài vào trong là men răng và ngà răng. Tủy răng là một tổ chức liên kết đặc biệt chứa nhiều dây thần kinh và mạch máu có ở cả thân răng và chân răng (gọi là buồng tủy và ống tủy) nằm trong một hốc giữa ngà răng.

Tủy răng có cả ở thân răng và chân răng, ống tủy chân răng là những nhánh rất nhỏ và mỏng, phân nhánh từ buồng tủy phía trên xuống đến chóp chân răng.

Tủy buồng của răng nhiều chân có trần tủy và sàn tủy.

Trần buồng tủy: có thể thấy những sừng tủy tương ứng với các núm răng ở mặt nhai

Sàn buồng tủy: là ranh giới phân định giữa tủy buồng và tủy chân. Các răng hàm lớn có sàn buồng tuỷ điển hình, các răng hàm nhỏ sàn buồng tuỷ thường không rõ, các răng một chân không có sàn buồng tuỷ. Sàn buồng tuỷ không bao giờ là một mặt phẳng, sàn thường có những vùng gồ lồi lên, gồ này cao lên theo tuổi. Trên mặt sàn buồng tủy có miệng của các ống tủy chính là đường vào của ống tuỷ.

Ống tủy chân răng: Bắt đầu từ sàn buồng tuỷ và kết thúc ở lỗ cuống răng. Ở sàn buồng tuỷ, ống tuỷ tương đối rộng nhưng ngay sau đó thu hẹp lại làm cho ống tuỷ có hình phễu

Ống tủy phụ và ống tủy bên: Mỗi chân răng thường có một ống tủy, song ngoài ống tủy chính ra còn có thể thấy nhiều ống tủy phụ, những nhánh phụ này có thể mở vào vùng cuống răng bởi các lỗ phụ

Lỗ cuống răng: mỗi ống tuỷ chỉ có một lỗ cuống răng. Tuy nhiên, rất nhiều nghiên cứu hình thái ống tuỷ trên kính hiển vi lập thể cho thấy một chân răng, thậm chí một ống tủy, có nhiều lỗ cuống răng. Các lỗ cuống răng này có thể gặp bất kỳ vị trí nào của chân răng

Răng có thể có từ 1 đến 4 ống tủy, như răng cửa thường có một ống tủy, răng cối nhỏ có 2 ống tủy, nhưng răng cối lớn thì thường có 3 đến 4 ống tủy, răng người già thì tủy răng hay bị canxi hóa. Về mặt hóa học, mô tủy chứa 70% nước, 30% là chất hữu cơ. Áp lực bình thường trong buồng tủy là 8-15 mmHg được điều hòa bởi cơ chế vận mạch, khi bị viêm áp lực buồng tủy có thể tăng đến 35 mmHg hoặc hơn nữa làm cho tủy răng như một cấu trúc nhốt hoàn toàn trong hộp kín, thiếu cấu trúc tuần hoàn bàng hệ, nó sẽ nhanh chóng bị hoại tử và không có khả năng hồi phục

Tủy răng gồm có mạch máu và thần kinh tương ứng với hai chức năng là nuôi dưỡng và dẫn truyền cảm giác kích thích từ bên ngoài cho thân răng, cảm giác của tủy răng mang lại gồm cảm giác ê buốt và một phần cảm giác về lực, ở đó có động mạch, tĩnh mạch, thần kinh và các mao mạch bạch huyết của răng.

Tủy răng có tác dụng gì?

Chức năng tạo ngà: Tạo ngà phản ứng trong các tổn thương mô cứng hoặc tham gia nuôi dưỡng, sửa chữa ngà răng

Chức năng dinh dưỡng: Mô tủy chứa hệ thống mạch máu nuôi dưỡng toàn bộ các thành phần sống của phức hợp tủy – ngà.

Chức năng thần kinh: Dẫn truyền cảm giác và thần kinh vận mạch. Cảm nhận và dẫn truyền cảm giác khi có kích thích tác động lên răng, cảm giác của tủy răng mang lại bao gồm cảm giác ê buốt, nóng, lạnh, đau và cảm giác về lực tác động như chấn thương, sâu răng

Chức năng bảo vệ: Chức năng bảo vệ được thực hiện qua hai quá trình đó là tái tạo ngà răng và đáp ứng miễn dịch góp phần duy trì sự sống và lành mạnh của răng

Tủy răng là trái tim của răng, duy trì sự sống và quyết định sự khỏe mạnh của răng. Răng đã chết tủy thì xem như răng đã chết và nó không còn tác dụng gì nữa. Khi răng không còn tủy để nuôi dưỡng thì nó sẽ không còn cảm nhận với mùi vị thức ăn, với cảm giác ăn nhai, nhiệt độ và đặc biệt là sẽ không có bất kỳ phản ứng nào với những kích thích từ bên ngoài.

Cần phải điều trị tủy răng là lấy bỏ phần tủy, là một mô nhỏ dạng sợi ở chính giữa răng. Sau khi lấy hết mô tủy bị hủy hoại, bị bệnh hay đã chết, khoảng trống bên trong răng được làm sạch, tạo dáng và trám bít lại, nhằm bít kín ống tủy. Nếu không điều trị sẽ gặp nhiều biến chứng ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt như đau nhức kéo dài, buốt lên tận óc, áp xe xương ổ răng, mất răng, rụng răng, nhiễm trùng lây lan sang mô mềm, răng kế cận, xương hàm và các bộ phận khác trong cơ thể như não bộ, tim, phổi.

Bạn đang xem bài viết Tủy Răng: Mô Đặc Biệt Của Cấu Trúc Răng trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!