Xem Nhiều 12/2022 #️ Văn Học Là Gì? Một Số Nét Chính Về Đặc Trưng Của Văn Học / 2023 # Top 18 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Văn Học Là Gì? Một Số Nét Chính Về Đặc Trưng Của Văn Học / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Học Là Gì? Một Số Nét Chính Về Đặc Trưng Của Văn Học / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Văn học là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong đời sống cũng như hoạt động nghiên cứu. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm được khái niệm văn học là gì cũng như những đặc trưng của loại hình nghệ thuật này. Vậy khái niệm văn học là gì, được hiểu như thế nào?

Văn học là gì? Tìm hiểu khái niệm văn học

Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người. Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ.

Khái niệm văn học đôi thường được sử dụng tương tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn. Tuy nhiên, xét về mặt tổng quát, khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương. Văn chương thường nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật ngôn từ.

Một số khái niệm được sử dụng phổ biến trong văn học

Bên cạnh khái niệm văn học là gì thì những khái niệm được sử dụng phỏ biến trong văn học cũng rất được quan tâm. Cụ thể như sau:

Đề tài: dùng để chỉ hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.

Chủ đề: được hiểu là những cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác phẩm văn học.

Tư tưởng tác phẩm văn học: Nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn bộ nội dung cụ thể sống động của tác phẩm văn học.

Nhân vật văn học: Con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng hoặc không có tên riêng.

Kết cấu: là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Khái niệm này thường hay bị nhầm với bố cục của tác phẩm. Thuật ngữ bố cục nhằm chỉ sự sắp xếp, phân bố các chương đoạn, các bộ phận của tác phẩm theo một trình tự nhất định. Thuật ngữ kết cấu thể hiện một nôi dung rộng rãi phức tạp hơn. Bố cục là một phương diện của kết cấu.

Đôi nét về đặc trưng cơ bản của văn học

Để giúp bạn hiểu rõ hơn khái niệm văn học là gì, bài viết xin chia sẻ một số đặc trưng cơ bản của văn học.

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về đối tượng phản ánh của văn học. Theo những nhà mỹ học duy tâm khách quan, văn học hướng nhận thức về thế giới vĩnh hằng của Thượng đế, của cái ý niệm có trước loài người. Sự chiêm nghiệm, sự hồi tưởng và miêu tả cái đẹp của ý niệm tuyệt đối là đối tượng của văn học.

Theo các nhà duy vật chủ nghĩa: Đối tượng phản ánh của văn học nằm ở trong hiện thực khách quan và đối tượng đó phải mang tính thẩm mĩ. Đây được xem là khái niệm đúng đắn và đầy đủ nhất.

Đặc trưng cơ bản của đối tượng phản ánh là toàn bộ sự sống của con nguời như tư tưởng, tình cảm, đạo đức của con người.

Nội dung phản ánh của văn học là đối tượng đã được ý thức, tái hiện có chọn lọc và khái quát trong tác phẩm và biểu hiện trong tác phẩm như là một tư tưởng về đời sống hiên thực. Đặc điểm quan trọng của nội dung văn học là khát vọng tha thiết của nhà văn muốn thể hiện một quan niệm về chân lí của đời sống.

Nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tưởng, giá trị. Nó không chỉ gắn liền về một quan niệm với chân lí của đời sống mà còn gắn liền với cảm hứng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá.

Đây được hiểu là đặc trưng về ngôn từ nghề thuật. Ngôn từ trong văn học có tính chính xác và điêu luyên, có tác dụng ra được cái “thần” của sự vật, hiện tượng, chỉ ra đúng bản chất của đối tượng được miêu tả trong tác phẩm. Bên cạnh đó, ngôn từ trong văn học đòi hỏi tính chính xác cao độ, vì vậy cũng đòi hỏi cả người viết lần người đọc phải có sự nhạy cảm và tinh tế.

Ngôn từ nghệ thuật cũng cần thể hiện tính hàm xúc, đa nghĩa. Ý tại ngôn ngoại tạo ra những dư vang, nén chặt ý tạo ra sức nặng và nhiều lượng ngữ nghĩa. Cùng với đó là các biện pháp tu từ và sưn chuyển nghĩa. Điều này tạo nên tính đã nghĩa của văn học.

Phương diện phản ánh của văn học cũng cần có tính hình tượng. Đây được xem là đặc trưng quan trọng nhất của văn học. Nó cũng là yếu tố thể hiện hiện thực, trạng thái hay sự vận động của con người trong tác phẩm.

Hình tượng văn học có thể là con người hoặc là toàn bộ sự vật, hiện tượng đời sống. Tính hình tượng vẽ về toàn bộ cuộc sống, con người, thiên nhiên được nhà văn sang tạo qua liên tưởng, tưởng tượng để thể hiện tư tưởng, tình cảm và khái quát hiện thực một cách có thẩm mĩ khi ta cảm nhận được hình tượng thì mới cảm nhận được cái hay, cái đẹp và ý nghĩa của văn chương.

Văn học phải cảm nhận bằng tất cả tâm hồn, phải dùng trí tưởng tượng, sự liên tưởng, suy luận cảm xúc với tất cả mọi giác quan và tâm hồn mới có thể hình dung được những sự vật, hiện tượng trong đời sống, điều đó nói lên rằng ngôn từ mang tính chất phi vật thể.Nhờ đó văn bản có thể diễn tả được những sự việc theo dòng chảy lịch sử hang ngàn năm, vạn năm trên một không gian hữu hạn hoặc vô hạn.

Có thể nói, vũ khí của nhà văn là ngôn từ, văn chương quan trọng nhất là chữ nghĩa, từ ngôn từ nghệ thuật ta nhận ra hiện thực, tài năng, thái độ của nhà văn thể hiện trong tác phẩm.

Văn Học Dân Gian Là Gì? Một Số Nét Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian / 2023

Văn học dân gian là gì?

Văn học dân gian được khái niệm là một sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp người dân và được phát sinh từ thời kỳ công xã nguyên thủy, quá trình phát triển qua nhiều thế kỷ, qua nhiều thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.

Ở Việt Nam, có 3 thuật ngữ được xem là tương đương nhau đó là: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân và Folklore văn học.

Một số ít những khái niệm khác xuất hiện trước những năm 50 như văn học bình dân, văn học truyền miệng, văn học đại chúng. Đến nay, những khái niệm này đã không còn được sử dụng nữa.

Thuật ngữ Folklore được biết đến do một nhà nhân chủng học người Anh tên là William Thoms định nghĩa với ý nghĩa là những di tích của nền văn học vật chất và chủ yếu đó là di tích của nền văn học tình thần phải kể đến như: Phong tục, tín ngưỡng, những bài dân ca, đạo đức, những câu chuyện kể của một cộng đồng.

Ở Việt Nam, thuật ngữ Folklore được dịch là văn học dân gian với 3 ý nghĩa bao hàm đó là: Nghĩa rộng, nghĩa hẹp và nghĩa chuyên biệt.

Theo nghĩa rộng: Bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do người dân sáng tạo ra. Theo như cách hiểu này, văn học dân gian là một trong những đối tượng của nhiều ngành khoa học, trong đó bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời đây cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hóa học.

Theo nghĩa hẹp: Đó là những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật. Trong đó, văn học dân gian bao gồm 3 thành tố là văn học dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian.

Theo nghĩa chuyên biệt: Văn học dân gian là gì? Theo thuật ngữ Folklore là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, múa, kịch,… do tập thể người dân sáng tạo ra. Cũng có thể sử dụng Folklore để chỉ văn học dân gian đồng thời dùng nó để phân biệt các đối tượng văn học khác.

Phân loại văn học dân gian

Phân loại văn học dân gian thường gồm 3 cấp cơ bản đó là: Loại, thể loại, biến thể của thể loại. Ngoài ra việc phân loại giữa các loại và thể loại còn có một cấp trung gian đó là nhóm thể loại.

1. Loại tự sự:

Văn xuôi tự sự bao gồm: Truyền thuyết, thần thoại, sử thi, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

Thơ ca tự sự bao gồm: Sử thi, truyện thơ và các loại vè.

Các câu nói vần bao gồm: Tục ngữ, câu đố, câu phù chú.

2. Loại trữ tình

Thơ ca trữ tình nghi lễ bao gồm: Bài ca nghi lễ sinh hoạt, bài ca nghi lễ lao động, bài ca nghi lễ tế thần.

Thơ ca trữ tình phi nghi lễ: Bài cao lao động, bài ca sinh hoạt, bài cao giao duyên.

3. Loại kịch: Bao gồm các loại hình ca kịch và trò diễn dân gian như chèo sân đình, tuồng, múa rối, những trò diễn có tích truyện.

Một số nét đặc trưng của văn học dân gian

Văn học dân gian thường có 3 nét đặc trưng cơ bản bao gồm: Tính nguyên hợp, tính tập thể và văn học dân gian gắn liền với sinh hoạt của nhân dân.

1. Tính nguyên hợp của văn học dân gian

Văn học dân gian thường được biểu hiện bởi sự hòa hợp của nhiều những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong nhiều các thể loại.

Có thể nói, văn học dân gian là một bộ bách khoa toàn thư của nhân dân. Tính nguyên hợp của văn học dân gian phản ánh tình trạng về ý thức xã hội thời kỳ nguyên thủy, khi mà các lĩnh vực sản xuất tinh thần chưa được gọi là chuyên môn hóa.

Trong các thời kỳ xã hội về sau thì tính nguyên hợp của văn học dân gian vẫn được phát huy về mặt nội dung để có thể phản ánh thực trạng của xã hội hiện tại. Bởi vì, đại đa số bộ phận người dân đều là tác giả của văn học dân gian.

Văn học dân gian là gì? Văn học dân gian thường có 3 dạng tồn tại: Tồn tại trong chính trí nhớ của tác giả dân gian, tồn tại bằng văn tự, tồn tại thông qua diễn  xướng.

Sự tồn tại thông qua diễn xướng là một trong những dạng tồn tại đích thực của nền văn học dân gian. Tuy nhiên, vấn đề là cũng không thể phủ nhận hoàn toàn 2 dạng tồn tại còn lại.

2. Tính tập thể trong văn học dân gian

Văn học dân gian là gì? Văn học dân gian là sự sáng tạo của người dân, nhưng không phải toàn bộ những tác phẩm của sáng tác ra đều là của người dân. Một số điều cần chú ý tới cá nhân và mối quan hệ giữa một cá nhân với một tập thể trong các quá trình biểu diễn.

Tính tập thể trong văn học dân gian thường được nhiều bộ phận người dân biết đến qua quá trình sử dụng tác phẩm. Vấn đề quan trọng nhất đó là tác phẩm đó có được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không và có đạt được những thành tựu trong cộng đồng người dân hay không.

Cái gọi là truyền thống của nghệ thuật dân gian được biết đến là sự sáng tác một cách chớp nhoáng mà không cần phải chuẩn bị trước, một mặt là sự quy định về khuôn khổ cho việc sáng tác.

3. Văn học dân gian – Một loại hình nghệ thuật gắn liền với quần chúng

Văn học dân gian là gì? Đó là sự nảy sinh và tồn tại như một phần hợp thành không thể thiếu trong sinh hoạt của nhân dân. Sinh hoạt của nhân dân chính là một trong những môi trường sống và phát triển của những tác phẩm văn học dân gian.

Những tác phẩm văn học, những bài hát ru gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của gia đình và đại bộ phận người dân. Việc đưa con vào trong giấc ngủ cho đến ngày nay cũng không thể thiểu.

Tương tự đó là những bài dân ca, những nghi lễ, các truyền thuyết gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo, lễ hội,… Từ những đặc tính trên thì văn học dân gian được biết đến là một loại hình nghệ thuật đa chức năng và nó cũng là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt hằng ngày.

Đặc Trưng Của Văn Học / 2023

Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm , một cách nhìn đối với đời sống. Nhưng văn học nói riêng và văn nghệ nói chung không giống với các hình thái ý thức xã hội khác

Đặc thù của văn học với tư cách là một hình thái ý thức thẩm mĩ tồn tại không gì thay thế được trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại là vì văn học có đối tượng phản ánh , nội dung và phương thức thể hiện riêng mà các hình thái ý thức xã hội khác không có đựơc.

_ Mĩ học duy vật khẳng định đối tượng của văn học là toàn bộ thế giới khách quan. Thế giới khách quan ấy được văn học chiếm lĩnh, nhìn nhận ở góc độ khác các ngành khoa học. Văn học chú ý đến các ” kinh nghiệm quan hệ” ( I. Bôrep). ” Kinh nghiệm quan hệ” mang ý nghĩa là quan hệ người kết tinh trong các sự vật và hiện tượng của thế giới hiện thực được miêu tả. Do đó con người trở thành trung tâm của mọi quan hệ đời sống trong miêu tả.

_ Lấy con người làm đối tượng miêu tả chủ yếu, văn học có một điểm tựa để nhìn ra thế giới:

+ Trong tác phẩm văn học, dù miêu tả thế giới khách quan hay thế giới chủ quan thì thế giới ấy cũng đều được nhìn nhận thông qua một con người, tức một nhân vật cụ thể ( Nhân vật trữ tình trong thơ, nhân vật , nhân vật người kể chuyện trong truyện). Không có một TP nào vắng bóng nhân vật. Con người trong văn học là trung tâm giá trị , trung tâm đánh giá và trung tâm kết tinh quan hệ.

VD: Hình ảnh trăng trong TPVH không phải được xem xét như một thiên thể vật chất tự nhiên , một hành tinh của trái đất trong thiên văn học mà nó chỉ có thể là ” Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ” ( Nam Cao), hoặc là người làm chứng cho lời thề bồi của đôi lứa ” Vầng trăng vằng vặc giữa trời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song” ( Truyện Kiều), hoặc là người bạn tri âm tri kỉ của người tù cộng sản mất tự do thân thể nhưng hoàn toàn tự do trong tư tưởng , tâm hồn ” Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”, là người bạn hữu tình của các bậc thi nhân, mặc khách ” Song thưa để mặc bóng trăng vào” ( NK) , ” Trăng vào cửa sổ đòi thơ” (HCM) , hay như một thiếu nữ đa tình ” Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu / Đợi gió đông về để lả lơi” ( Hàn Mặc Tử)

_ Rất nhiều ngành khoa học lấy con người làm đối tượng nghiên cứu nhưng con người với tư cách là đối tượng của văn học hoàn toàn khác con người là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học:

+ Văn học là nhân học nhưng con người trong TPVH được tái hiện trong tính toàn vẹn, cảm tính, sinh động từ những chi tiết ngoại hình, đến hành vi , ngôn ngữ, nội tâm,…

+ Con người trong VH được tái hiện trong những quan hệ xã hội chằng chịt, phong phú và phức hợp , bộc lộ qua những tính cách cụ thể trong những hoàn cảnh , môi trường cụ thể, trong những cuộc đời và số phận riêng biệt, cá lẻ. Trong đó, VH chủ yếu đi sâu vào phương diện tâm lí, tình cảm , tư tưởng.

+ Con người trong VH không được nhìn nhận như một thực thể khách quan tuyệt đối như trong các ngành khoa học mà được tái hiện dưới một quan niệm về đời sống, một lí tưởng , một tình cảm thẩm mĩ , một quy luật thẩm mĩ nhất định, một cảm hứng mãnh liệt của nhà văn

Nội dung của VH không đồng nhất với đối tượng của VH. Nội dung là đối tượng được ý thức, được tái hiện có chọn lọc, khái quát , đánh giá phù hợp với một tư tưởng về đời sống , một lí tưởng niềm tin nhất định đối với cuộc đời. Đối tượng của văn học tồn tại trong cuộc sống còn nội dung của văn học thì tồn tại trong tác phẩm. Nội dung văn học tương đồng với đối tượng của nó nhưng với một chất lượng khác

Nội dung của VH là sự giao thoa , xuyên thấm giữa cái khách quan và cái chủ quan, là hiện thực đời sống được ý thức về mặt tư tưởng và giá trị, gắn liền với một quan niệm về chân lí đời sống, với một thiên hướng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá. Không có chất liệu đời sống thì cũng không có gì để làm nên nội dung, nên thực chất của TPVH nhưng sự việc đời sống mà không âm vang vào tâm hồn, không lay động sâu xa nghệ sĩ, không thành ” Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi” thì cũng không biến thành hình tượng văn học được. Huy Cận đã so sánh hai trạng thái mưa trước và sau CMTT: ” Giọt mưa cũ ố vàng thơ phú

Triều mưa nay phơi phới lúa xanh”. Hay như cách nhìn của nhà thơ đối với các pho tượng La Hán chùa Tây Phương trước CM:

” Hoàng hôn thế kỉ phủ bao la

Sờ soạng cha ông tìm lối ra

Có phải thế mà trên mặt tượng

Nửa như khói ám nửa sương tà”

và sau CM, nói rõ hơn là trong thời điểm Miền Bắc tuyên bố đi lên xây dựng CNXH:

Các vị La Hán chùa Tây Phương!

Hôm nay xã hội đã lên đường

Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại

Nội dung của VH, vì thế,bao giờ cũng phong phú và đa nghĩa. Nhận thức nội dung của văn học, ý thức được những ưu thế riêng của văn học, cho phép nó có thể đáp ứng những nhu cầu xã hội phổ biến mà các hình thái ý thức xã hội khác không đáp ứng được.

Văn học nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tượng trong khi các hình thái ý thức XH khác phản ánh cuộc sống bằng các khái niệm , phạm trù có tính chất chính xác , khái quát , trừu tượng.

1* GS Trần Đình Sử cho rằng: Hình tượng là những khách thể thẩm mĩ được tái hiện một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật ( tất cả những gì của đời sống đều trở thành đối tượng của văn học, tái hiện một cách sáng tạo)

2* Timôphêep quan niệm: Hình tượng là bức tranh về đời sống vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát và mang ý nghĩa thẩm mĩ

Phân tích quan niêm của Timôphêep:

a_ Hình tượng văn học vừa cụ thể cảm tính vừa khái quát:

+ Cụ thể: tồn tại trong không gian, thời gian, có đường nét , ánh sáng , âm thanh, hương vị,…Tùy theo ý đồ nghệ thuật cá tính và tài năng nhà văn có thể xoáy sâu vào một phương diện nào đó

Chí Phèo vừa có ý nghĩ là một lớp , một bộ phận nhỏ nông dân bị tha hóa nhưng đồng thời còn là khát vọng làm người , khát vọng hoàn lương – một khát vọng mang tính nhân bản

VD Bài ca dao: Trên trời mây trắng như bông / Chính giữa cánh đồng bông trắng như mây /

Ba cô má đỏ hây hây / Đội bông như thể đội mây về làng

Có vẻ đẹp hài hòa giữa bầu trời , mặt đất và vẻ trẻ trung xinh đẹp của con người. Hài hòa về màu sắc, sự vận động êm nhẹ, mềm mại

( vật chất) tinh thần bản thân hình tượng là tinh thần

+ Khách thể: Bản thân hình tượng khi chia tay với nhà văn nó có đời sống riêng của nó, Người đọc có thể hiểu nó theo nhiều cách khác nhau, không phụ thuộc vào nhà văn

+ Đặc thù: HTVH có những đặc trưng riêng: tính chất đa nghĩa ( có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy theo đối tượng tiếp nhận)

+ Tạo hình: Nói đến hình tượng ta phải có một sự hình dung về không gian , thời gian, con người , sự vật… thông qua văn bản ngôn từ. Tạo hình có nghĩa là tạo được những hình hài cụ thể, có sự vận động trong không gian , thời gian, có màu sắc , đường nét , âm thanh, ánh sáng , hương vị… VD: Đoạn đầu bài thơ VỘI VÀNG

VD: Từ láy làm sự vật nhòe đi một chút nhưng tạo được sự chính xác của tư thế , tình thái

+ Tính kí hiệu: Một mặt hình tượng được xây dựng bằng kí hiệu ngôn ngữ và đến lượt nó lại là một kí hiệu

VD: – Về biểu tượng tình yêu:

– Thuyền – Biển ( Xuân Quỳnh)

– Biển – Bờ ( Xuân Diệu)

– Mây – Sóng ( Xuân Mai)

– Biểu tượng dân tộc Việt Nam anh hùng trong chiến đấu nhưng rất yêu hòa bình , cái đẹp: Lưng đeo gươm tay mền mại bút hoa ( Huy Cận)

Đầu súng trăng treo ( Chính Hữu)

Ga mới hồng đôi má / cầu mới thơm mùi sơn ( Xuân Diệu )

Văn học không chấp nhận sự lặp lại , phải luôn luôn đổi mới

_ Hình tượng bao giờ cũng mang tính nghệ thuật. Nhà văn phải lựa chọn, sắp xếp sao cho hình tượng hình tượng đó mang giá trị nghệ thuật độc đáo, cuối cùng đạt đến sự hài hòa giữa nội dung và hình thức

D- Chức năng của văn học:

Văn học là một loại hình nghệ thuật đa chức năng

1- Chức năng nhận thức:VH mang đến cho người đọc sự hiểu biết về cuộc sống và con người. Đặc biệt là cung cấp cho người đọc những hiểu biết sâu sắc về con người. Mặt khác, văn học không chỉ đem lại nhận thức cho người tiếp nhận mà còn giúp người sáng tác nâng cao nhận thức đối với cuộc sống và con người. Văn học không chỉ giúp con người hiểu biết quá khứ, về hiện tại và còn dự báo tương lai. Tác phẩm văn học thực sự là cuốn bách khoa toàn thư về đời sống

2- Chức năng giáo dục:Văn học giúp con người trong sáng , cao thượng hơn. Tác phẩm văn học có khả năng đề xuất các chuẩn mực về đạo đức ( đwocj đánh giá bằng các phạm trù tốt / không tốt). Văn học giáo dục thông qua các điển hình văn học. Chính vì thế mà nội dung giáo dục mang tính sinh động vì điển hình là những con ngườicó hành động , tâm lí cụ thể…. Con đường thực hiện chức năng giáo dục của văn học là con đường thấm dần. Có thể coi văn học là đạo đức nhưng là đạo đức sinh động của đời sống

Giáo dục đạo đức bằng văn học phải thông qua cái đẹp. Do vậy để thực hiện tốt chức năng giáo dục, văn học phải tạo ra được những hình mẫu lí tưởng mà ở đó chứa đựng những quan niệm đạo đức tiến bộ và từ đó trở thành những điển hình có sức cổ vũ người đọc làm theo

VD: Lục Vân Tiên: mẫu hình lí tưởng của người trai thời phong kiến nhưng đồng thời thấm nhuần đạo đức nhân dân

3- Chức năng thẩm mĩ:Để thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người , nhiều lĩnh vực đời sống cũng có khả năng đáp ứng , trong đó có cả những lĩnh vực sản xuất không thuộc lĩnh vực tinh thần. Tuy nhiên trong các lĩnh vực ấy yêu cầu thẩm mĩ phải đứng thứ hai sau yêu cầu tiện ích. Với tác phẩm nghệ thuật , giá trị thẩm mĩ là yêu cầu thứ nhất, nếu không có nó thì những chức năng khác đều không thể có tác dụng.

– Thứ nhất, Văn học tập trung miêu tả những cái đẹp vốn có trong đời sống. Do vậy đối tượng miêu tả của nghệ thuật trước hết phải là cái đẹp

Có thể nói văn học hướng đến cái đẹp của đời sống để thỏa mãn cái đẹp cho con người

– Thứ hai:Văn học giàu khả năng tạo ra một cái nhìn mới trước những đối tượng hết sức quen thuộc , bình thường. từ đó làm cho đối tượng mới hơn, đẹp hơn . Đây là đối tượng đúng với bản chất của văn học

4- Chức năng giao tiếp: Nhìn rộng ra giao tiếp chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của đời sống. Tuy nhiên con người có nhiều hình thức giao tiếp mà văn học là một hình thức giao tiếp đặc biệt. tính chất đặc biệt đó được bộc lộ:

+ Giao tiếp bằng VH chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tình cảm , tư tưởng . Khi nhà văn phải có một cảm hứng mạnh mẽ về nỗi đau, nỗi ám ảnh, trăn trở nào đấy mới có thể sáng tác. “Khi tôi viết là khi tôi thấy đau ở đâu đó”( Pasputin); “nhà văn là người cho máu”. ” Tôi viết theo mệnh lệnh của trái tim tôi nhưng trái tim tôi thuộc về Đảng” ( Sôlôkhôp)

+ Về phía người đọc: Khi ta tìm đến một TP nào đấy ta thấy xúc động , yêu thích mang tính tự giác xuất phát tự nhu cầu bên trong

+ Nội dung giao tiếp của văn học chủ yếu là bằng nội dung tư tưởng , tình cảm. Vì vậy nhu cầu được chia sẻ , được tri âm là nhu cầu rất lớn trong văn học. Do đó giao tiếp bằng văn học thường không giới hạn bởi không gian ,thời gian.

+ Giao tiếp bằng văn học là sự giao tiếp cực kì lí thú nhưng cũng hết sức phức tạp vì nó dễ dẫn đến sự hiểu lầm

Chức năng giải trí: Văn học là hình thức giải trí hữu ích bởi nó có khả năng làm cho con người có được những phút giây thư giãn sau một thời gian làm việc mệt nhọc. Việc giải trí bằng văn học cố nhiên đòi hỏi người đọc một trình độ nhận thức thẩm mĩ nhất định.Chọn TP phù hợp người đọc sẽ có được sự hưởng thụ giải trí bổ ích và trang nhã . Vì thế, từng người đọc sẽ tìm đến một loại TP phù hợp nhất định nào đó. Đôi khi người sáng tác coi sáng tác VH là một “trò chơi”. Một trò chơi đầy say mê và hiểu biết

( Phan Kế Bính – Việt Hán văn khảo, Mặc lâm xuất bản, Sài Gòn, 1970, trang 9)

GS Trần Đình Sử cho rằng : ” Có lẽ người Việt Nam hiện đại, không mấy ai diễn đạt khái niệm văn chương trung đại rõ ràng , chuẩn xác như ông Phan Kế Bính” ( Trần Đình Sử- Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB Giáo dục, H, 1999, trang91)

Trần Định @ 20:54 16/11/2011 Số lượt xem: 4265

Những Đặc Trưng, Vai Trò Và Chức Năng Của Văn Học / 2023

Đề tài: Thường được sử dụng nhằm chỉ sự vật, hiện tượng đời sống được phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Như vậy thì đề tài chính là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.

Tư tưởng tác phẩm văn học: Thể hiện sự nhận thức, là những lí giải hay thái độ của chính tác giả trong nội dung tác phẩm.

Nhân vật văn học: Ở đây chính là con người cụ thể được thể hiện trong tác phẩm văn học. Thông thường nhân vật văn học có thể có hoặc không tên riêng.

Kết cấu: Theo định nghĩa, kết cấu trong văn học chính là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Bố cục trong văn học nhằm chỉ sự phân bố hay sắp xếp các bộ phận, chương đoạn của tác phẩm theo trình tự nhất định. Như vậy, bố cục chính là phương diện của kết cấu và khái niệm kết cấu cho thấy nội dung phức tạp hơn, rộng rãi hơn.

Văn học theo khái niệm chính là một loại hình của sáng tác giúp tái hiện những đề tài của đời sống xã hội cũng như con người. Có nhiều quan điểm về khái niệm văn học, tựu chung lại sự xuất hiện của văn học chính là dựa vào sự sáng tạo của việc hư cấu, và nội dung được thể hiện qua từng đề tài sáng tác.

Khái niệm văn học thường bị nhầm lẫn với văn chương. Tuy nhiên, về bản chất thì văn học mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm văn chương. Sự khác nhau rõ nhất giữa hai khái niệm này chính là bởi văn chương thường nhấn mạnh nhiều đến tính thẩm mỹ, sự sáng tạo hay phương diện ngôn ngữ cùng nghệ thuật của ngôn từ.

Các thể loại chính của văn học:

Một số khái niệm trong văn học

Chức năng nhận thức của văn học

Văn học giúp người đọc nhận thức rõ về bản thân mình. Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.

Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.

Chức năng thẩm mĩ của văn học

Chức năng thẩm mỹ của văn học là một chức năng đặc trưng. Thẩm mỹ chính là cái đẹp. Cái đẹp ở đây đến từ nhiều phương diện, nhưng tựu trung lại con người luôn thích chiêm ngưỡng cái đẹp. Đó chính là bản chất của con người, là nhu cầu mà con người luôn hướng đến.

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Mỗi người sẽ có định nghĩa khác nhau về cái đẹp, nên không có một thước đo chuẩn xác cho cái đẹp, bởi lẽ nó khởi phát trong lòng người. Nhưng chức năng của cái đẹp, sự tác động của cái đẹp thì ta có thể thấy rõ và cảm nhận được. Cái đẹp xoa dịu tâm hồn con người, gạt bỏ mọi điều xấu xa khỏi tâm hồn con người chỉ để lại những gì thanh khiết trong tâm hồn con người.

Cái đẹp có chức năng cứu rỗi là vì thế. Chính nhờ có cái đẹp mà con người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc đời này, thấy cuộc sống có thêm ý nghĩa. Đó chính là giá trị chức năng đặc trưng của các loại hình nghệ thuật nói chung, của văn học nói riêng.

Cái đẹp của văn học đến từ cả hai phương diện hình thức và nội dung. Hình thức của văn học chính là thể loại chính là ngôn ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng. Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh, nhà điêu khắc dùng đường nét để khắc họa, nhạc sĩ dùng âm nhạc để nói nên nỗi lòng mình thì nhà văn lại dùng ngòi bút để tạo nên đứa con tinh thần của mình. Ngôn ngữ chính là chìa khóa vạn năng để thi nhân mở ra cánh cửa của muôn vàn cảm xúc. Nhà văn nhà thơ là người chắt lọc và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả nỗi lòng của mình. Cái đẹp ấy chính là ngôn ngữ.

Như câu thơ của Quang Dũng trong bài Tây Tiến dù cách đây đã lâu nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc mọi thời đại

Câu thơ với cách ngắt nhịp 4/3 cùng với sự lặp lại từ “dốc” ở đầu mỗi phần ngắt nhịp đã tạo nên một hình ảnh độc đáo. Sự bẻ đôi của câu thơ cũng đã phần nào diễn tả được độ dốc của địa hình. Và câu thơ có nhiều thanh trắc càng gợi được sự khó khăn trúc trắc trên bước đường hành quân của người lính.

Nhịp thơ như chính hơi thở của người lính trên hành trình leo dốc đầy gian nan này. Trên bước đường hành quân, khó khăn gian khổ là điều không thể tránh khỏi nhưng quan trọng là cách ta đối diện với khó khăn. Những người lính Tây Tiến cũng thế. Họ chấp nhận khó khăn và đối diện nó một cách đầy hiên ngang nhưng không kém phần tinh nghịch.

Biện pháp đảo ngữ đưa từ láy “heo hút” lên đầu đã nhấn mạnh sự vắng vẻ của khung cảnh nơi đây đồng thời còn nhấn mạnh sự hoang sơ của khung cảnh nơi đây không một bóng người. Thường với không gian hoang vắng như thế, con người sẽ oán than cuộc đời hoặc cảm thấy mình bé nhỏ cô độc nhưng những người lính không thế. Họ nhìn xa hơn vào cái hoang vắng ấy để thấy “súng ngửi trời”.

“Súng ngửi trời” là một hình ảnh nhân hóa đầy thú vị. Súng đeo trên vai luôn theo sát người lính ở mọi bước đường hành trình. Đi trên con dốc khiến người lính có cảm tưởng như chạm đến mây. HÌnh ảnh ấy gợi được độ cao của con dốc. Nhưng qua cái nhìn của người lính Tây Tiến khung cảnh hiện lên có cảm giác thật nhẹ nhàng, tinh nghịch như một bộ phim hoạt hình. Thế nhưng chính sự lạc quan tươi vui ấy lại là một phẩm chất cần có ở người lính. Bởi lẽ nó là chất xúc tác giúp người lính có thể vượt qua mọi khó khăn.

Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” là một nét phác họa gợi cho ta liên tưởng đến một bức tranh thủy mặc thời cổ của một thi sĩ nào đó. Chính nét phác họa ấy đã tạo nên một bức tranh nhiều chiều, dường như không chỉ là độ cao mà nó còn là độ sâu nữa. Dù hình ảnh người lính không xuất hiện trực tiếp nhưng trên phông nền hùng vĩ của thiên nhiên ấy, ta có thể tưởng tượng hình ảnh người lính xuất hiện hùng tráng biết bao như các chiến sĩ thời trung đại.

Có lẽ chính vì có lí tưởng, có mục đích chiến đấu cao cả nên người lính Tây Tiến không hề bé nhỏ cô đơn mà ngược lại. Kết thúc bức tranh núi rừng tây tiến hoang sơ nhưng hùng vĩ ấy là một hình ảnh thật nên thơ thơ mộng với “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến người đọc có một cảm giác thật nhẹ nhàng lãng mạn….

Trong những giây phút dừng chân hiếm hoi, người lính Tây Tiến phóng tầm mắt ra xa tìm kiếm một nơi ấm, một mái nhà ấm áp. Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ làm dấy lên trong lòng họ ngọn lửa ấm áp. Đó chính là cái đẹp mà văn học mang lại nhưng cái đẹp đó không đơn thuần là ở bên ngoài mà còn tác động đến tầng sâu cảm xúc làm lắng đọng những suy tư. Chính vì vậy, cái đẹp của văn học mới có thể tồn tại.

Chức năng giáo dục của văn học

Lý giải văn học với chức năng giáo dục

Giáo dục chính là một mục đích tuyệt vời của văn học. Chức năng giáo dục của văn học cũng là một trong những điều đặc biệt mà văn học mang lại. Sự giáo dục mà văn học mang lại không đơn thuần là những kiến thức sách vở mà đó là những bài học tác động đến tình cảm, cách ta nhìn nhận thế giới. Vì vậy, bên cạnh nhiều yếu tố khác, văn học chính là một trong những nhân tố giúp con người hình thành tam quan – thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan.

Văn học mang đến bài học giáo dục con người theo mỗi cách khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào người đọc giải mã tác phẩm thế nào. Mỗi người có một cách đọc, một cách nhìn nhận và lí giải tác phẩm khác nhau. Nhà văn sẽ mã hóa thông điệp của mình vào một hình ảnh, một chi tiết hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm của mình.

Như khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta nhận thấy Nguyễn Du gửi gắm sự đồng cảm đối với những bất công ngang trái mà những người tài hoa bạc mệnh phải gánh chịu. Thúy Kiều là một cô gái tài sắc nhưng phải chịu số phận hẩm hiu không chỉ rời xa gia đình êm ấm, mối tình đầu dang dở nhưng nàng lại phải chịu đựng kiếp làm lẽ, bị người đời chà đạp.

“Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy”.

Đời một người con gái tài hoa cuối cùng lại chỉ đành “khép cửa phòng tu” mà thôi. Bởi lẽ trong một xã hội đầy bất công, thế lực đồng tiền lên ngôi thì con người có tài hoa mấy rồi cuối cùng chỉ dang dở mà thôi. Chính vì vậy đọc truyện Kiều, ta không chỉ xót xa đồng cảm cho số phận của Kiều mà còn cảm thấy chán ghét bức bối trước xã hội thối nát.

Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, đọc những vần thơ về Kiều ta càng thêm khâm phục tài sắc và cả nhân cách của Kiều. Trân trọng ngợi ca cái đẹp cái tài cũng chính là một cách để thể hiện tấm lòng của tác giả đối với Nhưng bên cạnh đó còn là ước mơ về người anh hùng được gửi gắm qua nhân vật Từ Hải.

“Cháu chiến đấu hôm nay Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ”

Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi

Nhưng không chỉ có những tác phẩm lớn mà ngay những tác phẩm văn học thiếu nhi cũng đã hàm chứa chức năng giáo dục. Đó là giáo dục tình yêu thiên nhiên yêu quê hương đất nước. Chỉ một bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa cũng đã đủ để khơi dậy trong lòng người đọc nhiều ý nghĩ

Chỉ những hình ảnh đó thôi cũng đã khiến mọi người nhớ đến hình ảnh làng quê êm đềm với những hạt gạo mà bác nông dân phải một nắng hai sương xay giã giần sàng.

Văn học thiếu nhi tuy hướng đến đối tượng chính là thiếu nhi nhưng những bài học tác giả gửi gắm vào đó không hề giản đơn tùy tiện mà luôn chứa một chiều sâu vừa đủ để chạm đến tâm hồn của các độc giả trẻ tuổi cũng như vừa đủ để người lớn khi đọc lại vẫn cảm thấy vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị.

“Tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”

Chỉ vài dòng thơ trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân QUỳnh mà ta như sống lại với bao kỷ niệm ấu thơ về người bà hiền hậu tảo tần sớm hôm để lo cho đàn cháu nhỏ dại. Bà thắp lên những ngọn lửa không chỉ soi sáng không gian tăm tối mà còn soi sáng cả cuộc đời cháu…

“Làm sao giết được người trong mộng Để trả nợ duyên kiếp phũ phàng”

Chức năng giao tiếp của văn học

Văn học bên cạnh chức năng giáo dục, thẩm mỹ còn có chức năng giao tiếp. Chức năng giao tiếp của văn học không trực tiếp cụ thể mặt đối mặt như các kiểu giao tiếp thông thường trong cuộc sống mà nó là sự đối thoại đặc biệt giữa tác giả và người đọc. Tác giả sẽ truyền tải câu chuyện thông điệp vào trong từng trang viết.

“Em tưởng giếng nước sâu Em nối sợi gàu dài Ai ngờ giếng nước cạn Em tiếc hoài sợi dây”

Cuộc đời thi nhân dường như trải ra tâm trạng của người viết cũng được phơi bày một cách trung thực nhất không giấu giếm không lừa dối. Bởi lẽ thơ ca chỉ có thể tác động đến trái tim người đọc khi nó đi ra từ chính trái tim của người viết. Trái tim mới có thể đi đến trái tim. Nếu như những gì anh viết không phải là tình cảm nồng hậu chân thành thì làm sao có thể rung lên ở người đọc vô vàn xúc cảm. Như đọc những vần thơ của Xuân Diệu:

Hay những vần thơ của Hàn Mặc Tử:

Nếu đó không phải là những vần thơ xuất phát từ trái tim của thi nhân – một trái tim cô đơn khát khao tìm kiếm tình yêu thì làm sao những vần thơ ấy còn được lưu truyền đến ngày nay. Thời gian là dòng chảy khắc nghiệt nhất phũ phàng nhất có thể hủy hoại hết mọi thứ. Nhưng với tác phẩm văn học, thời gian lại chính là thước đo giá trị chính xác nhất.

Đặc trưng về đối tượng phản ánh.

Đặc trưng về nội dung phản ánh của văn học.

Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học.

Tính phi vật thể của ngôn từ nghệ thuật.

Nhưng sự đối thoại giữa người đọc và tác giả lại được diễn ra gián tiếp thông qua tác phẩm. Nếu như nhà văn là người mang đứa con tinh thần của mình đến với người đọc thì người đọc lại chính là người mang lại hơi thở, sự sống cho tác phẩm. Và lời hồi đáp của người đọc dành cho tác giả chính là những nỗi niềm trân quý, sự rung lên trong tâm hồn và sự thay đổi của người đọc. Tất cả đều góp phần kiến tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.

Văn học là thế, không cần những mĩ từ ngợi ca mà nó được người đời tung hô bởi những giá trị tự thân, mà giá trị ấy do nhiều yếu tố hợp thành như nhà văn, tư tưởng của tác phẩm, người đọc,… Một tác phẩm hội tụ đầy đủ những giá trị chwusc năng này ắt hẳn sẽ không phải là một tác phẩm nông cạn, trôi tuột trong kí ức người đọc mà ngược lại sẽ neo đậu trong lòng người đọc bao thế hệ.

Bản chất và đặc trưng của văn học

Bạn đang xem bài viết Văn Học Là Gì? Một Số Nét Chính Về Đặc Trưng Của Văn Học / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!