Xem Nhiều 12/2022 #️ Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Trong Đổi Mới / 2023 # Top 13 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Trong Đổi Mới / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Trong Đổi Mới / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Vị trí và vai trò của văn hóa trong đổi mới-phát triển: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra

I.Đánh giá khái quát Trong quá trình đổi mới thể chế, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đã tạo những tiền đề, điều kiện, môi trường,, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với văn hóa. Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với văn hóa, cũng như vai trò của tất cả các chủ thể trong xã hội về văn hóa, đã tạo nên bước phát triển mới của nền văn hóa Việt Nam. Những thành tựu cũng như yếu kém, bất cập trong phát triển văn hóa, đã được tổng kết – đánh giá chính thức nêu trong các văn kiện của Đảng (Nghị quyết các Đại hội Đảng và nghị quyết các Hội nghị Trung ương Đảng), Nhà nước. Xin nêu khái quát như sau: 1. Kết quả chủ yếu Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng: Tư duy lý luận về văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên. Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Văn hóa đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí, dân chủ hóa đời sống xã hội, nâng cao tính năng động sáng tạo, tự chủ và tính tích cực xã hội của con người, hình thành các nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam.Sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều phong trào, hoạt động văn hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết thực; phát huy được truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện. Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành; quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng. Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc. 2. Những hạn chế, yếu kémSo với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng . Còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật chưa theo kịp thực tiễn sáng tác. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích . Cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập. Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kémNhiều cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa Nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và trong một số trường hợp thiếu khả thi. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. II.Về vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự phát triểnNhững đánh giá khái quát về sự phát triển văn hóa trong những năm đổi mới như nêu trên là xác đáng. Tuy nhiên, cần làm rõ hơn vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, trong quá trình đổi mới, làm rõ hơn những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển văn hóa trong giai đoạn mới. 1.Cách tiếp cận về văn hóa và vai trò của văn hóa1). Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia. Tuy nhiên, khi nhìn nhận về vị trí và vai trò của văn hóa đối với sự phát triển thường có những cách tiếp cận khác nhau, điều đó một phần quan trọng phụ thuộc vào quan niệm về văn hóa. Hiện nay, theo một số thống kê chưa đầy đủ có khoảng hơn 400 định nghĩa (khái niệm) về văn hóa với những giác độ tiếp cận khác nhau. Năm 2002, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” .Theo định nghĩa của UNESCO, văn hóa chứa đựng cả yếu tố vật chất và phi vật chất, tuy nhiên vai trò chủ yếu của văn hóa là về lĩnh vực tinh thần – phi vật chất (tâm hồn, tri thức, cảm xúc, văn học, nghệ thuật, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, đức tin…). Hơn nữa, theo định nghĩa này văn hóa thuộc phạm trù của cả một xã hội hay một nhóm người, như vậy vai trò của văn hóa trong cá nhân con người và vai trò của văn hóa trong thể chế chính trị – xã hội (nhất là nhà nước) đã không được đề cập tới. 2). Quan niệm của Đảng ta về văn hóa cũng có những bước phát triển.

Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Việt Nam Với Việc Xây Dựng Sức Mạnh Mềm Việt Nam Trong Bối Cảnh Mới / 2023

Vị trí và vai trò của văn hóa Việt Nam với việc xây dựng sức mạnh mềm Việt Nam trong bối cảnh mới

Di tích lịch sử Văn miếu Mao Điền

                                            

  Sức mạnh mềm ( hay quyền lực mềm – soft power) là một khái niệm do giáo sư người Mỹ, Joseph Samuel Nye, Đại học Harvard đưa ra lần đầu tiên  trong cuốn sách Bound to Lead: The Changing Nature of American Power – (tạm dịch: Ràng buộc để dẫn dắt: Bản chất sức mạnh Mỹ đang thay đổi). Trong cuốn sách này, Joseph Samuel Nye đã đưa ra quan niệm sức mạnh mềm là khả năng đạt được thứ mình muốn thông qua sự hấp dẫn thay vì ép buộc. Nó xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia[1]. Đối với một quốc gia, sức mạnh mềm được tạo dựng trên các yếu tố: văn hóa quốc gia; giá trị quốc gia và chính sách của quốc gia đó. Trong đó, văn hóa là là cốt lõi của sức mạnh mềm và được coi là yếu tố có vai trò quyết định giá trị quốc gia, chính sách quốc gia, qua đó thể hiện sức mạnh và vị thế quốc gia. Vì vậy, văn hóa có vị trí, vai trò rất quan trọng trong xây dựng sức mạnh mềm của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam cũng vậy, văn hóa Việt Nam có có vị trí, vai trò quan trọng trong xây dựng sức mạnh mềm Việt Nam. Điều này thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

1.Văn hóa Việt Nam là nền tảng của sức mạnh mềm Việt Nam

Như chúng ta đã rõ, sức mềm của một quốc gia được xây dựng từ sức mạnh văn hóa, sức mạnh về giá trị của quốc gia và sức mạnh trong chính sách của quốc gia. Trong đó, sức mạnh văn hóa là nền tảng, cốt lõi. Bởi lẽ, chính sức mạnh văn hóa mới tạo nên giá trị quốc gia bền vững. Giá trị của quốc gia được tạo dựng nên từ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Cả giá trị vật chất, cả giá trị tinh thần, xét đến cùng đều thuộc giá trị văn hóa. Đằng sau các giá trị vật chất cũng là các giá trị tinh thần của nền văn hóa ấy. Cũng chính văn hóa mới tạo nên giá trị trong chính sách quốc gia chứ không phải sức mạnh cứng như kinh tế, quân sự… Văn hóa không chỉ tạo nên giá trị trong chính sách của quốc gia mà còn tạo ra sức mạnh của chính sách quốc gia. Bản chất của sức mạnh mềm là thuyết phục, cảm hóa, hấp dẫn, lôi cuốn thay vì ép buộc, cưỡng bức. Do vậy, sự thuyết phục, cảm hóa, hấp dẫn, lôi cuốn bằng văn hóa là sự thuyết phục, cảm hóa, hấp dẫn, lôi cuốn bền chặt nhất. Trong điều kiện công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế có sự gia tăng giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc thì việc khẳng định sức mạnh, vị thế của một quốc gia, dân tộc bằng và thông qua sức mạnh mềm càng được đặt ra quan trọng. Văn hóa, trên thực tế đã trở thành nhân tố then chốt trong số những nhân tố tạo nên sức mạnh mềm của một quốc gia. Đặc biệt, trong thời đại thông tin toàn cầu như ngày nay, với các công cụ internet, mạng truyền thông.. thì vai trò nền tảng của văn hóa trong xây dựng sức mạnh mềm của quốc gia càng rõ nét. Việt Nam là đất nước đất không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế, quân sự không phải mạnh so với nhiều quốc gia dân tộc, nhưng chúng ta có lợi thế về văn hóa. Chính các giá trị văn hóa Việt Nam như truyền thống yêu nước, yêu chuộng hòa bình, tinh thần đoàn kết, khoan dung, vị tha của văn hóa và con người Việt Nam đã, đang và sẽ còn là sức hấp dẫn đối với các dân tộc khác. Lịch sử đã chứng minh tinh thần hòa hiếu, lấy nhân nghĩa làm trọng, yêu hòa bình, cần cù chịu khó, yêu lao động, tự lực, tự cường của người Việt Nam đã trở thành sức mạnh văn hóa trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Đây là một trong những nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong điều kiện công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thì những giá trị văn hóa Việt Nam như tinh thần hòa hiếu, lấy nhân nghĩa làm trọng, yêu hòa bình, cần cù chịu khó, yêu lao động, tự lực, tự cường đang trở thành những giá trị chung của nhân loại. Nói khác đi, những giá trị văn hóa Việt Nam có điểm tương đồng với các giá trị văn hóa của nhân loại. Vì có điểm tương đồng như vậy, nên văn hóa Việt Nam đang có sức hấp dẫn, lôi cuốn, cảm hóa nhiều dân tộc trên thế giới. Đó là sức mạnh mềm Việt Nam và sức mạnh mềm này được tạo dựng cơ bản từ các giá trị văn hóa Việt Nam.

2. Văn hóa Việt Nam tạo nên chất liệu cho sự hấp dẫn các dân tộc khác để tạo nên sức mạnh mềm Việt Nam

Sự hấp dẫn của một nền văn hóa có thể bằng nhiều phương thức. Trước hết đó là sự hấp dẫn của các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần. Mặc dù, nằm trong vùng khí hậu, nhiệt đới, gió mùa, lắm bão, lũ, nhiều mưa rông, thời tiết cũng khắc nghiệt, nhưng Việt Nam là  đất nước  có nhiều phong cảnh và danh thắng tự nhiên hấp dẫn lòng người, được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên hàng đầu của nhân loại như bãi đá cổ Sapa; Vịnh Hạ Long; động Phong Nha – Kẻ Bàng,  nhiều bãi biển đẹp như Non Nước, Lăng Cô, Nha Trang..; hệ thống sông, rạch, miệt vườn Nam Bộ độc đáo; có nhiều đảo đẹp như Cát bà, Côn Đảo, Phú Quý, Phú Quốc; những trảng cát trải dài ở Bình Thuận; v.v.. Chúng ta còn có một số di sản văn hóa vật thể như kiến trúc cố đô Huế, Tháp Chàm, di tích thánh địa Mỹ Sơn, Hoàng Thành Thăng Long; .v.v.. Tất cả những di sản văn hóa vật thể này là chất liệu quý giá để làm nên hình ảnh đẹp về một Việt Nam với những vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, kỳ vỹ, khác thường, chứa đựng nhiều sức lôi cuốn, hấp dẫn khách du lịch, tạo điều kiện để vừa tạo nên sức hấp dẫn văn hóa vật thể, vừa tạo nên sức hấp dẫn về giá trị của quốc gia và sức hấp dẫn trong chính sách của quốc gia. Nếu chúng ta biết khai thác, phát huy những giá trị văn hóa vật thể này thì sức mạnh văn hóa, sức mạnh của quốc gia, sức mạnh trong chính sách quốc gia sẽ được tăng cường, củng cố. Bởi lẽ, tự thân các giá trị văn hóa vật thể chỉ tạo ra khả năng lôi cuốn tiềm ẩn, tiềm tàng. Khả năng lôi cuốn, hấp dẫn, thu hút lòng người chỉ trở thành hiện thực khi chúng ta biết phát huy, biết quảng bá, biết ra được những chính sách phù hợp. 

Các giá trị văn hóa tinh thần như bản thân nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, như nhã nhạc cung đình, không gian văn hóa cồng chiêng, rối nước, quan họ,v.v.. Đặc biệt những giá trị văn hóa tinh thần như lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng dân tộc; lòng nhân ái, khoan dung, hiếu học, khát vọng hòa bình, yêu hòa bình; cần cù, lạc quan, khiêm tốn, giản dị, trung thực; tinh thần dũng cảm, bất khuất đã ăn sâu vào máu thịt con người Việt Nam qua các thế hệ và tạo nên sức mạnh Việt Nam  suốt qua nhiều thế kỷ. Cùng với các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống ấy là phẩm chất của con người Việt Nam yêu hòa bình, vị tha, khoan dung, đễ hòa nhập,v.v.. luôn là sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu hút mạnh mẽ sự cảm thông, chia sẻ, sự hợp tác,v.v.. của các dân tộc khác.

Văn hóa Việt Nam còn hấp dẫn, lôi cuốn các dân tộc khác bởi với văn hóa ẩm thực độc đáo, gắn liền với sản vật nông nghiệp nhiệt đới, gắn với văn hóa môi trường, thanh lịch, có hương vị và màu sắc riêng, có lợi cho sức khỏe, khác với văn hóa ẩm thực phương Đông và văn hóa ẩm thực phương Tây như món phở, nem rán cua bể, bún thang, bánh cuốn, bánh xèo Huế,…cây, cỏ nhiệt đới Việt Nam có nhiều nhiều vị thuốc nam rất quý có tác dụng chữa bệnh, bồi dưỡng cơ thể. Trên cơ sở ấy, người Việt Nam đã tạo ra những vị thuốc nam, đông y mang thương hiệu và nét riêng Việt Nam. Đây cũng là một sức hấp dẫn, lôi cuốn, thu phục du khách nước ngoài. Nếu chúng ta phát huy được văn hóa ẩm thực và văn hóa đông y, chắc chắn chúng ta sẽ góp phần phát huy được sức mạnh văn hóa này trong tăng thêm sức mạnh mềm Việt Nam.

        3.Văn hóa Việt Nam là phương thức thực hiện sức mạnh mềm Việt Nam

Bằng văn hóa, thông qua văn hóa thì việc thu phục, hấp dẫn, lôi cuốn, người khác, dân tộc khác mới hiệu quả và bền vững. Bởi lẽ, bằng văn hóa, thông qua văn hóa mới làm cho người khác, dân tộc khác cảm phục, quý mến. Từ cảm phục, quý mến họ mới tìm hiểu, trên cơ sở của sự hiểu biết về văn hóa của chúng ta kết hợp với sự cảm phục, quý mến ấy  họ mới tiếp nhận, cảm nhận nó, thưởng thức nó và dần dần mới chuyển hóa sự cảm nhận đó, hiểu biết đó thành văn hóa của chính họ. Khi ấy văn hóa đã thực hiện thành công chức năng cảm hóa, thu phục, lôi cuốn người khác, dân tộc khác. Nền  văn hóa Việt Nam của chúng ta vốn có được những giá trị tương đồng với các giá trị văn hóa nhân loại. Cho nên văn hóa Việt Nam càng có cơ sở, điều kiện để thực hiện chức năng cảm hóa, thu phục, lôi cuốn người khác, dân tộc khác. Trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thì cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa giữ vai trò quan trọng trong thực hiện sức mạnh mềm Việt Nam. Tất nhiên, giữa ngoại giáo chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa có mối liên hệ tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. Hơn nữa, trong ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế cũng bao gồm những khía cạnh của ngoại giao văn hóa. Ngược lại, ngoại giao văn hóa cũng ham chứa, thể hiện ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế. Đó văn hóa chính trị, văn hóa kinh tế của Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà Đại hội XII của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”[2]. Khi chúng ta tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng sự bình đẳng và cùng có lợi của các quốc gia, dân tộc thì chúng ta đã thể hiện sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam. Việt Nam tôn trọng các nền văn hóa khác, tôn trọng các dân tộc khác, coi trọng sự bình đẳng cùng có lợi với các dân tộc khác và trong đối ngoại chúng ta là là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Phương châm này thể hiện đầy đủ giá trị văn hóa Việt Nam, sức mạnh mềm Việt Nam trong chinh sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong điều kiện công nghiệp hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Bởi lẽ, muốn cảm phục, thu hút, lôi cuốn người khác, dân tộc khác, trước hết chúng ta phải tôn trọng họ, tôn trọng sự bình đẳng cùng có lợi. Trong quan hệ hợp tác chính trị chúng ta thể hiện rõ là bạn bè chứ không phải kẻ thù. Trong hợp tác kinh tế chúng ta thể hiện là đối tác làm ăn tin cậy, không phải đối tượng của họ. Trong quan hệ quốc tế chúng ta thể hiện là thành viên có trách nhiệm. Với tinh thần là bạn, là đối tác làm ăn, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế đã thể hiện được sức mạnh trong văn hóa, sức mạnh của quốc gia và sức mạnh trong chính sách quốc gia. Đó chính là sức mạnh mềm Việt Nam. Cũng giống như tri thức, văn hóa không có tính độc quyền mà có tính lan tỏa và tính cộng hưởng. Văn hóa càng được truyền bá, sử dụng và đi theo thì giá trị của văn hóa càng tăng lên chứ không “hao mòn” đi như các loại hàng hóa hữu hình khác. Do vậy, chúng ta phải đẩy mạnh ngoại giao văn hóa. Đây là một phương thức quan trọng để hình thành, thực hiện sức mạnh văn hóa Việt Nam trong sức mạnh mềm Việt Nam.

Vị Trí, Vai Trò Và Chức Năng Của Tổ Chức Công Đoàn. / 2023

“Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

(Trích: Điều 10 Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992) 1. Vị trí của Công đoàn Việt Nam:

Công đoàn là thành viên trong hệ thống chính trị xã hội Việt Nam

– Với Đảng, Công đoàn chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chỗ dựa vững chắc và là sợi dây chuyền nối liền quần chúng với Đảng.

– Với Nhà nước, Công đoàn là người cộng tác đắc lực, bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, ngược lại Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý và cơ sở vật chất cho Công đoàn hoạt động.

– Với tổ chức chính trị, xã hội khác, Công đoàn là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hạt nhân trong khối liên minh Công, Nông, trí thức, bình đẳng, tôn trọng, tạo điều kiện cho nhau hoạt động (thông qua các Nghị quyết liên tịch…)

2. Vai trò của Công đoàn Việt Nam:

Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam không ngừng phát triển, mở rộng qua các thời kỳ. Ngày nay trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại, vai trò của Công đoàn Việt Nam tác động trên các lĩnh vực:

* Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị – xã hội xã hội chủ nghĩa. Tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực thi pháp luật và để Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Để đảm bảo sự ổn định về chính trị.

* Trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn tham gia xây dựng hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế nhằm xoá bỏ quan liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở mở rộng dân chủ. Góp phần củng cố những thành tựu kinh tế văn hoá và khoa học kỹ thuật đã đạt được trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có lợi cho quốc kế dân sinh. Đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, từng bước đưa kinh tế tri thức vào Việt Nam, góp phần nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hoạt động của các thành phần kinh tế vẫn đảm bảo cho kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, đóng vai trò chủ đạo.

* Trong lĩnh vực văn hoá – tư tưởng: Trong nền kinh tế nhiều thành phần Công đoàn phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân, viên chức và lao động nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại góp phần xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

* Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn có vai trò trong tham gia xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, có nhãn quan chính trị, thực sự là lực lượng nòng cốt của khối liên minh công – nông – trí thức, làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở vững chắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước.

3. Chức năng của Công đoàn Việt Nam

Công đoàn Việt Nam có ba chức năng.

1. Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.

2. Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế xã hội, quản lý Nhà nước trong phạm vị chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật.

3. Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và phát triển bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Chức năng của Công đoàn là một chính thể, một hệ thống đồng bộ, đan xen tương tác lẫn nhau. Trong đó, chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động mang ý nghĩa trung tâm – mục tiêu hoạt động công đoàn. Từ các chức năng này sẽ định ra các nhiệm vụ cụ thể của Công đoàn.

Vai Trò, Vị Trí Của Quốc Hội Việt Nam / 2023

Quang cảnh kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII.

Hỏi: Quốc hội Việt Nam có vai trò, vị trí như thế nào trong bộ máy nhà nước ta?

Trả lời: Trong bộ máy Nhà nước ta, Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Hỏi: Tại sao nói Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân?

Trả lời: Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, bởi vì theo quy định của Hiến pháp ở nước ta, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước. Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan Nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của nhân dân. Chỉ Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành luật, thành mục đích chung mang tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân được thể hiện ở các mặt sau đây:

– Quốc hội là cơ quan Nhà nước do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

– Quốc hội gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân. Quốc hội là sự thể hiện rõ nhất khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đại diện cho trí tuệ của nhân dân cả nước.

– Quốc hội có nhiệm vụ phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân và dân tộc, nói lên tiếng nói của nhân dân, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước.

Hỏi: Quốc hội có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn gì?

Trả lời: Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội thì Quốc hội nước ta có 3 chức năng chính là: Thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;

2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước;

4. Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước;

5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia;

8. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;

10. Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

11. Quyết định đại xá;

12. Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;

13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

15. Quyết định trưng cầu ý dân.

(Theo tài liệu hỏi – đáp về bầu cử của Hội đồng bầu cử Quốc gia)(còn nữa)

Bạn đang xem bài viết Vị Trí Và Vai Trò Của Văn Hóa Trong Đổi Mới / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!