Xem Nhiều 12/2022 #️ Vùng 3 Hải Quân: Vận Dụng Linh Hoạt, Sáng Tạo Các Biện Pháp Đấu Tranh Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Miền Trung / 2023 # Top 16 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Vùng 3 Hải Quân: Vận Dụng Linh Hoạt, Sáng Tạo Các Biện Pháp Đấu Tranh Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Miền Trung / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Vùng 3 Hải Quân: Vận Dụng Linh Hoạt, Sáng Tạo Các Biện Pháp Đấu Tranh Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Miền Trung / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Huấn luyện phòng chống cháy nổ tại Lữ đoàn 172. Ảnh: Vùng 3 Hải quân cung cấp

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trên giao, Vùng 3 Hải quân đã quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ; chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; phương châm tư tưởng chỉ đạo, đối sách trên biển, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sỹ trong toàn Vùng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có niềm tin vào vũ khí trang bị được biên chế và cách đánh của ta, có ý chí quyết tâm, sẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hy sinh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc. Đã tập trung hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; duy trì nghiêm lực lượng, phương tiện trực ở các cấp, nhất là lực lượng trực trên các vùng biển trọng điểm, kịp thời phát hiện, tham mưu với trên và tổ chức lực lượng xử lý có hiệu quả các tình huống đúng phương châm, tư tưởng chỉ đạo, đúng đối sách; không để bị động, bất ngờ; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền và giữ vững môi trường hòa bình vùng biển được phân công.

Đại tá Phạm Văn Hùng: Chúng tôi được giao quản lý vùng biển rộng, trải dài trên 700 km, dọc theo bờ biển 7 tỉnh miền Trung bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa. Đây là một trong những vùng biển trọng điểm, vì vậy đòi hỏi phải xây dựng lực lượng hải quân thật sự vững mạnh, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao, mới đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, làm nòng cốt nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay chúng tôi tập trung làm tốt công tác giáo dục cho bộ đội nhận thức đầy đủ về tình hình nhiệm vụ, nhất là những diễn biến mới, tình hình phức tạp trên biển Đông, làm cho mọi quân nhân trong đơn vị nắm chắc quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Tập trung bồi dưỡng, rèn luyện cho cán bộ, chiến sỹ bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, tọa đạn, diễn đàn, thi tìm hiểu, cũng như giáo dục, tham quan truyền thống, hành quân về nguồn… qua đó khơi dậy và phát huy truyền thống dân tộc, quân đội, quân chủng, Vùng và các cơ quan, đơn vị. Đồng thời rèn luyện bản lĩnh chính trị thông qua hoạt động thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu thực hiện nhiệm vụ của mỗi cán bộ chiến sĩ.

Đại tá Phạm Văn Hùng: Xác định con người là yếu tố trung tâm, quyết định, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Vùng tập trung làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, làm cho cán bộ, đảng viên thấy rõ được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với Quân đội, đặc biệt là đối với Hải quân, từ đó xây dựng niềm tự hào, ý thức trách nhiệm, tính tự giác trong học tập, rèn luyện nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn nghiệp về mọi mặt nhằm đáp ứng tốt yêu cầu được giao.

Luyện tập sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn 172. Ảnh: Vùng 3 Hải quân cung cấp

Chúng tôi tổ chức duy trì nghiêm nền nếp, chế độ huấn luyện chiến đấu. Tập trung huấn luyện sát phương án, đối tượng tác chiến, chiến trường, tổ chức biên chế và vũ khí trang bị kỹ thuật; lấy nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thềm lục địa của Tổ quốc và xây dựng Quân chủng Hải quân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại làm mục tiêu huấn luyện. Kết hợp chặt chẽ giữa gửi đào tạo, bồi dưỡng tại nhà trường, học viện với tập huấn, bồi dưỡng tại đơn vị. Định kỳ tổ chức tốt các Hội thao, hội thi thao, thường xuyên sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu để không ngừng nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.

Bên cạnh đó chúng tôi đẩy mạnh công tác tuyên truyền thu hút nguồn nhân lực đối với các đơn vị trong toàn quân và học sinh, sinh viên có trình độ vào xây dựng đơn vị. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, có nhiều chính sách, chế độ ưu tiên, đãi ngộ để khuyến khích động viên cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị tự học tập, tự nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ….

Có thể nói rằng, đến nay có 100% cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và hạ sỹ quan, binh sỹ Vùng 3 Hải quân có đầy đủ năng lực, trình độ để quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị trang bị kỹ thuật mới, hiện đại, góp phần nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Thu Lan/VOV

Đại tá Phạm Văn Hùng: Thời gian qua, tình hình trên các vùng biển nước ta nước ta nói chung và vùng biển Vùng 3 được phân công quản lý nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường… Quán triệt và thực hiện lời Bác Hồ dạy “dĩ bất biến – ứng vạn biến”,trước hết chúng tôi quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ về tình hình nhiệm vụ; nắm chắc phương châm, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và đối sách của Đảng và Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Xây dựng niềm tin cho cán bộ, chiến sỹ vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chi huy đơn vị, tin vào vũ khí trang bị và cách đánh của ta, có bản lĩnh chính trị vững vàng.

Thứ hai, chúng tôi quán triệt thực hiện tốt vấn đề có tính nguyên tắc đó là kiên quyết bảo vệ vững chắc được chủ quyền quyền biển, đảo của Tổ quốc, đồng thời giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định trên biển để phát triển đất nước. Đây là vấn đề bất di, bất dịch. Tuy nhiên trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của hình trên biển hiện nay, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Vùng 3 luôn vận dụng, linh hoạt sáng tạo các biện pháp đấu tranh trên cơ sở quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm, chủ trương, đối sách của Đảng, kiên quyết đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, phát huy sức mạnh tổng hợp của các các cấp, các ngành, các lực lượng tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân trên biển.

Thứ ba là phải đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ với đảng bộ, chính quyền, nhân dân các địa phương và các lực lượng, quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của tổ quốc. Tổ chức huấn luyện, học tập nâng cao trình độ làm chủ phương tiện hiện đại; trình độ xử lý các tình huống để cho mỗi con tàu, mỗi cán bộ, chiến sĩ khi làm nhiệm vụ trên biển, không chỉ là “lá chắn” bảo vệ chủ quyền, mà còn là những chiến sĩ trên mặt trận ngoại giao, góp phần tạo môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.

Xin cảm ơn Đại tá Phạm Văn Hùng!

Kiên Quyết Đấu Tranh Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo / 2023

“Bằng các giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế tiếp tục kiên trì, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc” – Thủ tướng nhấn mạnh tại phiên họp thường kỳ Chính phủ sáng nay.

Sáng 30/6, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 trực tuyến với lãnh đạo tất cả các địa phương trong cả nước.

Phát biểu khai mạc phiên họp Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ, phiên họp tập trung kiểm điểm, đánh giá tình hình kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, đối ngoại của đất nước 6 tháng đầu năm 2014; từ đó xác định các nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung chỉ đạo nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong 6 tháng cuối năm.

Quang cảnh phiên họp tại Hà Nội. Ảnh: Nhật Bắc

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh phiên họp diễn ra trong bối cảnh đặc biệt vì từ đầu tháng 5 tới nay, TQ đã bất chấp đạo lý, pháp lý, quan hệ hữu nghị VN-TQ, đưa và hạ đặt trái phép giàn khoan thăm dò dầu khí cùng hàng trăm tầu hộ tống bảo vệ xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của VN theo quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển 1982…..

Việc làm này của TQ không chỉ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của VN, đe dọa đến hòa bình, ổn định, an ninh của đất nước, ảnh hưởng xấu tới quan hệ hữu nghị hợp tác VN- TQ mà còn de dọa nghiêm trọng đến hòa bình, ổn định, an ninh của khu vực.

Trong bối cảnh đặc biệt này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: Chính phủ cùng chính quyền và lãnh đạo các địa phương phải cùng nhau nỗ lực cao nhất, bằng các giải pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để tiếp tục kiên trì, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc, vừa phải bằng mọi giải pháp phù hợp để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh trật tự để xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội; vừa quyết tâm bằng mọi biện pháp phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu đã đề ra từ đầu năm nay.

Trên tinh thần này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các thành viên Chính phủ, lãnh đạo các địa phương, các đại biểu tham dự phiên họp đề cao tinh thần trách nhiệm, đóng góp các ý kiến thiết thực, cụ thể nhằm ban hành Nghị quyết của Chính phủ với các định hướng, chỉ đạo phù hợp, hiệu quả vá sát với tình hình thực tế.

Lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp, giá cả thị trường khá ổn định, cung – cầu hàng hóa được bảo đảm. So với tháng 12/2013, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 có mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ 13 năm qua.

Lãi suất được điều chỉnh giảm, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tỷ giá, thị trường ngoại hối diễn biến cơ bản ổn định. Xuất khẩu duy trì đà tăng trưởng cao và tiếp tục có xuất siêu. Tiến độ thu ngân sách Nhà nước đạt cao hơn cùng kỳ các năm trước; cán cân thanh toán thặng dư cao. Về tăng trưởng kinh tế, GDP quý II tăng cao hơn quý I và ước 6 tháng đầu năm đạt 5,18%, tăng cao hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ 2 năm trước.

Bài 2: Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo / 2023

Vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam là hết sức thiêng liêng, nhưng cũng hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trước sau như một, Việt Nam kiên quyết và kiên trì đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Khi thiết lập chế độ bảo hộ đối với Việt Nam, Pháp nhân danh Việt Nam thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các chính quyền miền Nam Việt Nam sau này cũng đều phản đối kiên quyết tất cả các trường hợp xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cứ liệu lịch sử các giai đoạn tiếp theo

Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ đối với Việt Nam theo Hiệp ước ngày 6/6/1884, Pháp nhân danh Việt Nam thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong thời kỳ đầu, các nhà cầm quyền Pháp đã có phương án dựng một đèn biển ở quần đảo Hoàng Sa, tiến hành các cuộc tuần tiễu trong vùng biển hai quần đảo bằng các tàu chiến để đảm bảo an ninh.

Từ năm 1925 đến năm 1927, Viện Hải dương học Nha Trang cử tàu De Lanessan ra cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để nghiên cứu về hải dương, địa chất, sinh vật…

Từ năm 1930 đến 1932, các tàu chiến Inconstant, Alert, La Malicieuse và cả tàu De Lanessan liên tiếp ra quần đảo Hoàng Sa.

Từ năm 1930 đến năm 1933, các đơn vị hải quân Pháp lần lượt đóng tại các đảo chính của quần đảo Trường Sa, gồm Trường Sa, An Bang, Ba Bình, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ.

Việc này được công bố trong Công báo của nước Cộng hòa Pháp ra ngày 26/7/1933. Cũng trong năm 1933, quần đảo Trường Sa được quy thuộc vào tỉnh Bà Rịa theo Nghị định của Thống đốc Nam Kỳ J. Krautheimer.

Năm 1938, quần đảo Hoàng Sa được nhập vào tỉnh Thừa Thiên. Nhà cầm quyền Đông Dương đã cho một đơn vị quân đội ra đóng tại quần đảo Hoàng Sa và lập các trạm khí tượng, vô tuyến điện, xây dựng thêm bia chủ quyền, đèn biển.

Đầu năm 1939, Nhật Bản tuyên bố đặt một số đảo của quần đảo Trường Sa thuộc quyền tài phán của họ, Pháp đã chính thức phản kháng. Từ năm 1939 cho đến hết cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản đã chiếm đóng cả hai quần đảo này.

Khi trở lại Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu năm 1947, Pháp đã yêu cầu Trung Quốc rút khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép từ cuối năm 1946. Pháp đã cho quân đến thay thế quân đội Trung Quốc và xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện.

Lợi dụng việc Pháp rút khỏi Đông Dương, năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân ra xâm chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1974, lợi dụng việc quân đội chính quyền Sài Gòn phải đối phó với cuộc tiến công của lực lượng vũ trang của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trung Quốc dùng không quân và hải quân chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa.

Trong tất cả các trường hợp xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều lên tiếng phản đối kiên quyết.

Trước và sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa đã nhiều lần được đưa ra các hội nghị quốc tế xem xét.

– Tại Hội nghị Cairo (tháng 11/1943), khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, những người đứng đầu các nước Anh, Mỹ và Cộng hòa Trung Hoa đã họp tại Cairo, thủ đô Ai Cập. Tuyên bố Cairo không ghi nhận quần đảo Paracel tức Hoàng Sa và Spratly tức Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

– Tại Hội nghị Potsdam (tháng 7/1945), những người đứng đầu 3 nước Liên Xô, Mỹ, Anh lại ra tuyên bố xác nhận lại một lần nữa Tuyên bố Cairo.

– Tại Hội nghị hòa bình San Francisco (tháng 8/1951) với sự tham gia của 51 quốc gia, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã được thừa nhận.

Tại Hội nghị này, trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã khẳng định chủ quyền lâu đời của nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp bất cứ sự phản đối nào của 50 quốc gia tham dự còn lại. Sự kiện đó chứng tỏ Hội nghị San Francisco đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

– Hội nghị Geneva năm 1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương khẳng định các bên tham gia tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do các lực lượng của Pháp và Quốc gia Việt Nam quản lý.

– Điều 1 Hiệp định Paris năm 1973 nói rõ tất cả các nước tôn trọng độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lúc này hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang do Việt Nam Cộng hòa quản lý, và là một bộ phận lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.

Như vậy, theo luật pháp quốc tế đương thời về thụ đắc lãnh thổ, một quốc gia được coi là có chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ khi quốc gia đó chứng minh được mình đã chiếm hữu, thực thi, quản lý và khai thác lãnh thổ đó với tư cách Nhà nước một cách liên tục, hòa bình. Theo đó, Việt Nam đã xác lập, thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc đã xâm chiếm vào các năm: Năm 1946, lấy cớ giải giáp quân Nhật ra chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; năm 1956 đối với bộ phận phía Đông của quần đảo Hoàng Sa; năm 1974 đối với bộ phận phía Tây quần đảo Hoàng Sa; và năm 1988 đối với một số đá, bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa.

Từ góc độ của luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi phi pháp.

Từ sau năm 1988, Trung Quốc tiến hành cải tạo, xây dựng, biến một số thực thể địa lý ở phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa của Việt Nam thành các đảo nhân tạo lớn, đủ để xây dựng và bố trí các thiết bị quân sự hải, lục, không quân hiện đại.

Ngoài ra, Trung Quốc đã đưa tàu thăm dò dầu khí vào bãi Tư Chính (năm 1994), đưa giàn khoan Kantan 03 vào khoan thăm dò trên thềm lục địa Việt Nam (năm 1997), thực hiện một số vụ cắt cáp tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam, trong đó có tàu Bình Minh 02 (năm 2011), đưa giàn khoan Hải Dương 981 trái phép vào vùng biển của Việt Nam (năm 2014).

Từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 10/2019, Trung Quốc đưa nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 nhiều lần khảo sát trái phép tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Căn cứ vào UNCLOS 1982, khu vực mà Trung Quốc đưa tàu vào hoạt động không phải là khu vực tranh chấp hay có chồng lấn mà là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Gần đây nhất, tàu cá QNg 90617 TS và 8 ngư dân Việt Nam đang hoạt động bình thường tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì bị tàu hải cảnh Trung Quốc ngăn cản và đâm chìm.

Trước việc Trung Quốc ngày 18/4/2020 thông báo thành lập cái gọi là “quận Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) và “quận Nam Sa” (tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam) tại “thành phố Tam Sa,” ngày 19/4/2020, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng lê tiếng phản đối mạnh mẽ:

“Việt Nam đã nhiều lần mạnh mẽ khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế

Với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Việt Nam trước sau như một khẳng định nhất quán kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với các quần đảo, các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như đã được quy định theo luật pháp quốc tế, bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam – là văn bản pháp quy đầu tiên và là cơ sở nền tảng cho các văn bản pháp quy sau này.

Tuyên bố xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, không chỉ giới hạn trong quyền đánh cá mà còn có các quyền chủ quyền và quyền tài phán khác.

Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước Luật Biển, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, yêu cầu các nước tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.

Là thành viên Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam được quyền có lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý.

Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà tại đó Việt Nam được hưởng những quyền lợi đối với vùng biển và tài nguyên theo quy định của Công ước là khoảng gần 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền.

Phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam đã ban hành Luật Biển Việt Nam năm 2012 nhằm thống nhất quản lý việc hoạch định, sử dụng, thăm dò, khai thác tài nguyên biển và quản lý các vùng biển, thềm lục địa, hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng.

Cùng với việc ban hành Luật Biển, Quốc hội Việt Nam cũng đã thông qua Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật Hàng hải 2015, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015)…

Vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam là hết sức thiêng liêng, nhưng cũng hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trước sau như một, Việt Nam kiên quyết và kiên trì đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, cả ở thực địa và trên mặt trận ngoại giao, qua nhiều kênh và ở nhiều cấp khác nhau để giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo luật pháp quốc tế./.

Một Số Vấn Đề Về Đấu Tranh Quốc Phòng Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Tình Hình Mới / 2023

Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá X) về Chiến lược biển Việt Nam đã xác định: “Đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển”. Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, với nhiều giải pháp đồng bộ; trong đó, đấu tranh quốc phòng (ĐTQP) bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nội dung quan trọng cần được nghiên cứu, triển khai thực hiện.

Lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh tại vùng biển đảo Gạc Ma được tổ chức trên tàu HQ 996 (nguồn: Cục Thông tin Đối ngoại – Bộ TT&TT)

Với vùng biển rộng (hơn 1 triệu km 2), bờ biển dài (khoảng 3.260 km), hơn 3.000 đảo lớn nhỏ, 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa án ngữ trên tuyến đường hàng hải quốc tế, Việt Nam là một trong những quốc gia có lợi thế, tiềm năng to lớn về biển. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp đầu tư phát triển kinh tế biển kết hợp với bảo vệ, giữ vững chủ quyền, an ninh vùng biển, bước đầu đạt kết quả quan trọng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH đất nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, khả năng khai thác những lợi ích từ biển còn hạn chế; việc kết hợp kinh tế với quốc phòng-an ninh (QP-AN) ở các vùng biển có lúc, có nơi còn thiếu chặt chẽ; an ninh trên biển còn diễn biến phức tạp, nhất là các tranh chấp, xâm phạm chủ quyền, lợi ích từ biển ngày càng gia tăng, đe dọa chủ quyền an ninh quốc gia và hoà bình, ổn định, hợp tác trong khu vực. Vì vậy, để bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên các vùng biển, tạo môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế biển bền vững, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, kết hợp chặt chẽ nhiều biện pháp và hình thức đấu tranh; trong đó, ĐTQP bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nội dung quan trọng cần được nghiên cứu, triển khai thực hiện có hiệu quả; trước mắt, tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:

Hai là, vận dụng linh hoạt, sáng tạo và kết hợp chặt chẽ các hình thức, phương pháp đấu tranh, bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Xuất phát từ đặc điểm của ĐTQP bảo vệ chủ quyền biển, đảo có nhiều lực lượng tham gia, diễn ra trên nhiều lĩnh vực, địa bàn rộng, đấu tranh với nhiều loại đối tượng, trong nhiều tình huống khác nhau, nên tính chất, mục tiêu, yêu cầu đấu tranh trong từng trường hợp cũng khác nhau. Trong đó, các tình huống quốc phòng có thể diễn ra đan xen, kế tiếp hoặc chuyển hoá lẫn nhau; quá trình diễn biến, chuyển hoá đó nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào âm mưu, thủ đoạn và hành động cụ thể của đối tượng cũng như phương thức, biện pháp và kết quả đấu tranh của ta. Vì vậy, để ĐTQP có hiệu quả, chúng ta phải căn cứ vào tình hình cụ thể để vận dụng linh hoạt và kết hợp chặt chẽ các hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp; thực hiện đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; kết hợp sức mạnh trong nước và quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo của các đối tượng.

Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, làm thất bại thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng lợi dụng tình hình “nhạy cảm” trên biển, đảo để kích động, chia rẽ, gây mất ổn định chính trị, phá hoại mối đoàn kết nội bộ và làm tổn hại tới mối quan hệ giữa nước ta với các nước trong khu vực; đồng thời, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và các hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo của đối phương trước dư luận trong nước và quốc tế. Lực lượng quần chúng nhân dân và các tổ chức hoạt động trên biển, đảo cùng LLVT kiên trì vận động, thuyết phục và kiên quyết ngăn chặn các hoạt động xâm phạm của đối phương; kết hợp với các hình thức đấu tranh khác cả ở trong và ngoài nước, buộc họ phải tôn trọng chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ nước ta.

Trên lĩnh vực pháp lý, các cơ quan luật pháp, các tổ chức chính trị-xã hội chủ động thu thập đầy đủ các chứng cứ lịch sử, các bằng chứng về những vi phạm luật pháp quốc tế về biển, đảo của đối phương; trên cơ sở đó, củng cố các cơ sở pháp lý cần thiết, chuẩn bị đội ngũ chuyên gia pháp lý về biển, đảo, thống kê các thiệt hại mà đối phương gây ra cho nhân dân, đất nước ta và các tổ chức quốc tế đang hoạt động hợp pháp trên vùng biển Việt Nam, để đưa ra đấu tranh công khai trên các diễn đàn quốc tế, buộc đối phương phải thừa nhận và từ bỏ hành động xâm phạm, đánh chiếm biển, đảo của ta.

Trên lĩnh vực kinh tế, tăng cường công tác quản lý kinh tế, nhất là lĩnh vực tài chính, thương mại; chủ động đấu tranh ngăn chặn các thủ đoạn lợi dụng mở cửa, hợp tác để phá hoại kinh tế, mua chuộc cán bộ hòng làm suy yếu hệ thống chính trị của ta và gây mất ổn định chính trị-xã hội. Đồng thời, có biện pháp hữu hiệu bảo vệ lợi ích hợp pháp của các công ty, tổ chức kinh tế nước ngoài đang làm ăn trên vùng biển, đảo của ta, nhất là vô hiệu hoá thủ đoạn gây sức ép, phá hoại hợp đồng kinh tế của ta với các đối tác nước ngoài. Trong trường hợp cần thiết, có thể tiến hành các biện pháp đấu tranh phù hợp trên lĩnh vực tài chính, thương mại để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Trên lĩnh vực quân sự, chủ động chuẩn bị các phương án tác chiến, xây dựng các công trình phòng thủ; kết hợp chặt chẽ thế trận của các đảo, cụm đảo với thế trận của lực lượng cơ động trên biển, thế trận ven biển, thế trận phòng không-không quân, thế đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý… tạo thế trận quốc phòng toàn dân (QPTD) vững chắc, góp phần răn đe, ngăn ngừa xảy ra xung đột vũ trang và chiến tranh. Tăng cường phối hợp tuần tra, kiểm soát giữa các lực lượng: Hải quân, Không quân, Biên phòng, Cảnh sát biển, dân quân tự vệ biển…, và với các lực lượng khác để bảo vệ chủ quyền và các hoạt động của ta trên biển, đảo, nhất là hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển. Khi xảy ra xung đột, cần bình tĩnh kiềm chế, kiên trì đấu tranh; đồng thời, triển khai lực lượng và các hoạt động trên biển, tạo thế hỗ trợ, phối hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý…, không để đối phương lợi dụng tạo cớ, gây xung đột vũ trang và chiến tranh đánh chiếm biển, đảo của ta. Trường hợp buộc phải đấu tranh vũ trang, cần hành động kiên quyết, nhanh, mạnh, gọn, kết hợp với các mặt đấu tranh khác không để xung đột lan rộng, kéo dài, mở rộng thành chiến tranh.

Ba là, tiến hành đồng bộ các giải pháp, nâng cao năng lực đấu tranh cho các lực lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới. Hiện nay, do tính chất phức tạp và nhạy cảm của các tranh chấp trên Biển Đông đã tác động trực tiếp đến sự ổn định chính trị trong khu vực và quốc tế, nên ĐTQP trên các vùng biển, đảo sẽ diễn ra quyết liệt, liên tục và lâu dài, không thể chỉ một sớm, một chiều. Vì vậy, tiến hành đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao năng lực đấu tranh cho các lực lượng là vấn đề rất quan trọng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo thời kỳ mới. Theo đó,cần đẩy mạnh công tác giáo dục QP-AN, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về biển, đảo cho các cấp, các ngành, LLVT và toàn dân, nhất là đối với các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ trên biển, đảo. Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về chiến lược biển của các nước trong khu vực và thế giới để có đối sách phù hợp trong ĐTQP bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Trên cơ sở nâng cao hiệu quả kết hợp kinh tế với tăng cường QP-AN, tập trung củng cố tiềm lực, lực lượng và thế trận QPTD trên biển, đảo ngày càng vững chắc, nhất là đối với lực lượng Hải quân, Phòng không-Không quân, Cảnh sát biển, Biên phòng… bảo đảm đủ sức quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Bên cạnh đó, chú trọng kiện toàn, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành các hoạt động ĐTQP từ Trung ương đến các địa phương; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quốc phòng; nâng cao hiệu quả phối hợp, hiệp đồng giữa LLVT và các lực lượng khác trong ĐTQP, góp phần bảo vệ, giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong tình hình mới.

Viện Chiến lược Quốc phòng – BQP

Bạn đang xem bài viết Vùng 3 Hải Quân: Vận Dụng Linh Hoạt, Sáng Tạo Các Biện Pháp Đấu Tranh Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Miền Trung / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!